Fire Emblem: Shin Monshō no Nazo ~Hikari to Kage no Eiyū~ (ファイアーエムブレム 新・紋章の謎 〜光と影の英雄) là game chiến thuật theo lượt, Simulation RPG của hãng Nintendō phát hành vào ngày 15 tháng 7 năm 2010 trên hệ máy NDS.
Đây là phiên bản thứ 12 trong series Fire Emblem và là bản remake của bộ thứ hai trong phiên bản thứ 3, Fire Emblem Monshō no Nazo (phần "chiến tranh anh hùng") được phát hành trên hệ máy Super Famicom vào năm 1994. Phiên bản thứ 12 này còn bao gồm các màn chơi được remake của game BS Fire Emblem Akania Senki được phát sóng qua Satellaview vào năm 1997. Vì đây là phiên bản thứ 12 trong series nên còn được cộng đồn fan gọi là FE 12, Mộc đế 12, Fire Emblem 12,...
Bắt đầu từ đây về sau, trong bài này sẽ sử dụng những tên viết tắt như "Monshō no Nazo" để chỉ phiên bản FE3 trên Snes, "Shin Monshō no Nazo" để chỉ phiên bản thứ 12 này và "Shin Ankoku Ryū" để chỉ phiên bản FE 11, Fire Emblem Shin Ankoku Ryū to Hikari no ken.
Một cảnh trong game
Khái yếu
Tên của phiên bản này được tạm dịch là "tân bí ẩn dấu ấn lửa, người hùng ánh sáng và người hùng trong bóng tối". Nội dung của game tập trung vào cuộc chiến tranh anh hùng kể từ sau khi Vương tử xứ Aritia là Marusu đánh bại Hắc ám long Medius trong cuộc chiến tranh hắc ám. Marusu được người người tôn xưng là Vương tử ánh sáng, người đã cứu thế giới thoát khỏi nguy cơ diệt vong. Nhưng không mấy người biết đến sự tồn tại của những người hùng vô danh bên cạnh Marusu, những người hùng thầm lặng trong bóng tối đã giúp đỡ Marusu giành được thắng lợi trong hai cuộc chiến. Phiên bản Shin Monshō no Nazo này tập trung vào những nhân vật thầm lặng này.
Lão kỵ sĩ Jeigan và nhân vật tự tạo
Game cho phép người chơi tự tạo ra nhân vật riêng của mình bằng cách đặt tên, chọn giới tính, khuôn mặt, binh chủng và một số thông tin khác như xuất thân, mục tiêu phấn đấu... Và như vậy, trong phiên bản Fire Emblem này thì Vương tử Marusu không còn là nhân vật chính duy nhất như ở các phiên bản trước nữa. Nếu Marusu là người hùng ánh sáng thì nhân vật do người chơi lựa chọn là người hùng thầm lặng giúp đỡ Marusu chiến thắng trong cuộc chiến anh hùng.
Nội dung
Năm 605, lịch Akania, Vương tử xứ Aritia là Marusu cùng Vương đệ xứ Orlean là Hardin cùng nhau đánh đổ Hắc ám long Medius trong cuộc chiến hắc ám. Một năm sau, Hardin kết hôn với Vương nữ Akania là Nina và trở thành quốc vương đời thứ 24 của đất nước này và kéo các nước lâm vào cuộc chiến hỏa liên miên. Cùng lúc đó, một thanh niên trẻ tuổi do người chơi điều khiển tìm đến thành Aritia để tham dự cuộc thi trở thành kỵ sĩ cận vệ cho Marusu...
Nội dung của Shin Monshō no Nazo tập trung vào bộ 2 của FE3, chiến tranh anh hùng, bí ẩn dấu ấn lửa. Ngoài ra còn có một số thay đổi nhỏ, thêm bớt so với bản FE3 như sẽ liệt kê dưới đây.
Game Play
Những yếu tố không có trong Monshō no Nazo
Chương mở đầu
Giống như trong Shin Ankoku Ryū, Shin Monshō no Nazo còn có chương mở đầu gồm 7 phần tượng trưng cho 7 ngày luyện tập trở thành kỵ sĩ Aritia của nhân vật chính. Kết thúc ngày thứ 7, nội dung của game tập trung vào cuộc viễn chinh Grunia của Marusu như trong FE3.
Nhân vật tự chọn
Một nhân vật chính nữa bên cạnh Marusu, xuất hiện trong vai trò kỵ sĩ cận vệ của Marusu. Người chơi có thể lựa chọn tên, giới tính, hình dáng và binh chủng ban đầu cho nhân vật. Nếu Marusu hoặc nhân vật này chết đi thì sẽ Game Over. Đây là nhân vật tự chọn thứ hai trong series kể từ quân sư Mark trong phiên bản Rekka no ken. Mở đầu game, nhân vật này được miêu tả như một thí sinh đến tham dự cuộc thi tuyển kỵ sĩ cận vệ cho Vương tử Aritia. Nếu thỏa mãn một số điều kiện nhất định thì sẽ phát sinh thêm các màn ngoại truyện.
Casual Mode
Lần đầu tiên trong series Fire Emblem có chế độ chơi mà các Unit bị tấn công hết HP không "chết" đi mà tiếp tục sử dụng được ở map sau. Ngược lại với Casual Mode là Classic Mode, nhân vật khi đã "ra đi" là không bao giờ trở lại.
Casual Mode và Classic Mode
Shin Akania Senki
Phiên bản này còn có thêm các màn chơi được remake của Akania Senki với cột mốc thời gian trước khi cuộc chiến hắc ám bắt đầu.
Bảng quan hệ các nhân vật
Phiên bản 12 này có thêm chức năng hướng dẫn giúp người chơi tham khảo về mối quan hệ giữa các nhân vật xuất hiện trong game.
Những yếu tố thêm, phát huy từ Shin Ankoku Ryū
Nhân vật
Các nhân vật chỉ xuất hiện trong map ngoại truyện ở Shin Ankoku Ryū tiếp tục xuất hiện trong phiên bản này và không cần phải đạt một số lượng nhất định các nhân vật trong quân chết đi như ở phiên bản trước. Phiên bản này quy tụ đầy đủ các nhân vật xuất hiện trong bộ 1 và bộ 2 của Monshō no Nazo và còn có thêm một số nhân vật mới cùng với các nhân vật từng xuất hiện trong FE1 trên Nes nhưng bị cắt bỏ ở FE3.
Độ khó
Ngoài "Normal" và "Hard" ra thì FE 12 còn có thêm cấp độ "Maniac" và "Lunatic". Ở từng cấp độ, người chơi có thể lựa chọn Casual Mode hoặc Classic Mode.
Yếu tố bao búa kéo của vũ khí
Tuy không xuất hiện ở Monshō no Nazo nhưng trong Shin Monshō no Nazo lại thấy có yếu tố bao búa kéo giữa các loại vũ khí như ở các phiên bản từ Seisen no Keifu trở đi.
Thay đổi binh chủng
Giống như trong Shin Ankoku Ryū, ở đây người chơi có thể thay đổi binh chủng của nhân vật ngoài khả năng Class change để chuyển đổi từ binh chủng cấp thấp sang cấp cao hơn.
Map Point Save
Kế thừa từ phiên bản Shin Ankoku Ryū, chức năng này cho phép người chơi lưu trữ quá trình chơi tại giữa màn chơi và không bị mất đi khi reset.
Đấu Wireless
Kế thừa từ Shin Ankoku Ryū, Shin Monshō no Nazo cũng cho phép người chơi thi đấu với nhau thông qua chức năng DS Wireless và Nintendō Wifi Connection.
Thuê Unit
Kế thừa từ Shin Ankoku Ryū, phiên bản này cho phép người chơi thuê Unit từ bạn bè.
Online Shop
Kế thừa từ Shin Ankoku Ryū, chức năng này cho phép mua Item thông qua Nintendō Wifi Connection. Item mua được cũng thay đổi theo ngày như trong Shin Ankoku Ryū.
Màn chơi Bonus
Người chơi có thể download các nội dung Bonus từ trang chủ của game. Những nội dung này là các màn chơi mới và có 6 màn chơi kiểu này cho tới thời điểm hiện tại.
Sound Room
Chức năng này cho phép người chơi nghe lại toàn bộ các khúc nhạc trong game.![]()
Monday, 19 July 2010
Fire Emblem: Shin Monshō no Nazo
Sunday, 4 July 2010
Final Fantasy VIII Japanese vs English version
Mấy nay ngồi chơi lại bản tiếng Nhật, thấy vài cái khác biệt, thử liệt kê xem...
I. Thay đổi tên
Khi chuyển ngôn ngữ từ tiếng Nhật sang Anh, nhà sản xuất cũng đã thay đổi nhiều cái tên trong game để cho quen thuộc với người Âu Mỹ hơn. Tên thì gồm có tên quái vật, tên Item, tên phép thuật, tên vũ khí và tên Limit break.
1.Tên quái vật
Ngoài một số tên quái vật có nghĩa như Sabotenda (Saboten trong tiếng Nhật nghĩa là xương rồng) khi chuyển sang tiếng Anh thì được dịch thành Cactuar, Cactrot thì còn có rất nhiều tên quái vật không có nghĩa (chắc vậy) cũng bị thay đổi. Chẳng hạn
Hedge Viper (J) được chuyển thành Anacondaur
Belhelmelhel (ベルへルメルヘル) được chuyển thành Belhelmel
Purinura (プリヌラ) được chuyển thành Blobra
Fokaroru chuyển thành Fastitocalon
Gomani và Doromani (hai bàn tay trái và phải của quái vật Vysage) được chuyển thành Lefty và Righty trong bản tiếng Anh.

Và còn nhiều trường hợp khác
Ngoài ra một số tên quái vật có nghĩa cũng bị thay đổi trong bản tiếng Anh
Life Forbidden --> Forbidden
Hau Lizard --> Geezard
Melt Dragon --> Hexadragon
Red Mouse --> Red Bat
Vân vân...
2. Tên phép thuật
Có khá nhiều tên phép được thay đổi trong bảng tiếng Anh
Gravide --> Demi
Gravija --> Gravity
Arise --> Full Life
Libra --> Scan
Levitate --> Float
Levitega --> Rapture

Vân vân
3. Tên GF
Hầu như tên các GF trong bảng tiếng Nhật được giữ nguyên trong bản tiếng Anh, trừ GF Glasya-Labolas (グラシャラボラス) được chuyển thành Doom Train.
4. Tên vũ khí
Vũ khí trong FF8 không nhiều, nhưng có nhiều cái tên được thay đổi ở bản tiếng Anh
Kiasutoreto --> Shear Trigger
Flametan --> Flame Saber

Lance of Slit --> Twin Lance
Punishment --> Crime & Penalty
Yumeka Maboroshika (nghĩa là "đây là giấc mộng hay ảo ảnh", một món vũ khí của Selphie) --> Strange Vision
5.Tên Limit Break
Valley --> Angle Wing
Head Shock --> Booya
Rush Punch --> Punch Rush
Invisible Moon --> Invincible Moon
Levitega --> Rapture
Grape Shot --> Scatter Shot
Wish Star --> Wishing Star
End of Heart --> Lion Heart

II. Thay đổi gameplay
+ Ở đĩa 3, viện nghiên cứu biển, sau khi đánh bại Bahamut đi xuống chỗ Ultima Weapon thì bạn phải đụng một trận đánh sau 2 bước đi trong bản tiếng Nhật. Nếu có ability Enc Half thì đụng trận sau 4 bước và nếu có Enc-None thì đụng sau 8 bước. Tuy nhiên sang phiên bản tiếng Anh thì nếu có Enc-None thì bạn không phải đụng trận nào.
+ Ở đĩa 1, chỗ hang lửa đánh GF Ifrit. Khi vào hang bạn được chọn thời gian từ 10 phút cho tới 40 phút. Trong bản tiếng Nhật thì sau khi đánh Ifrit đồng hồ vẫn còn chạy trong khi ở bản tiếng Anh chỉ cần hạ Ifrit là đã hết lo về thời gian.
+ Đầu đĩa 1 ở bản tiếng Anh luôn xuất hiện các menu hướng dẫn cách chơi, cách Junction trong khi ở bản tiếng Nhật thì không.
+ Trong bản tiếng Nhật, bạn không thể draw các GF trước đây bỏ sót ở lâu đài Ultimecia (đĩa 4) như ở bản tiếng Anh.
III. Loss in Translation
Dịch tức là phản! Bản tiếng Anh có rất nhiều đoạn hội thoại mang nghĩa mơ hồ và có khi xa hẳn nghĩa gốc trong bản tiếng Nhật. Có thời gian thì tôi sẽ thống kê những chỗ này sau.
IV. Những thay đổi lặt vặt khác
Ngoài những thay đổi dễ nhận biết trên, FF8 bản tiếng Anh còn khá nhiều thay đổi lặt vặt. Chẳng hạn ở đĩa 1, đài truyền hình Tiimber, trong bản tiếng Nhật, khi đi ngang qua cái TV to thì xuất hiện thông điệp "Get me back I am alive" của ma nữ bên ngoài không gian. Tuy nhiên thông điệp này không xuất hiện ở bản tiếng Anh.

Fujin và Raijin là hai đệ tử của Seifer, tên của họ trong tiếng Nhật nghĩa là thần gió và thần sét (Phong thần, Lôi thần). Trong bản tiếng Nhật, câu nói của Fujin luôn gọn lỏn với một từ Kanji. Còn trong bản tiếng Anh, câu nói của Fujin luôn được viết hoa.
V. Ngoài lề
Bạn có bao giờ gặp con quái vật này trong bản tiếng Anh không?


Con quái này thực sự tồn tại trong bản tiếng Nhật (tôi đụng độ nó khi hack dữ liệu của FF8). Nó tên là Dummy, phía sau lưng có hàng chữ "Gomenne" (xin lỗi nhé) và không bao giờ tấn công bạn. Hạ được nó mang lại một ít Exp và vài món Item như Potion.

Sử dụng phép Libra (Scan) lên Dummy thì chỉ thấy bảng chữ cái của tiếng Nhật: a i u e o ka ki ku ke ko...
I. Thay đổi tên
Khi chuyển ngôn ngữ từ tiếng Nhật sang Anh, nhà sản xuất cũng đã thay đổi nhiều cái tên trong game để cho quen thuộc với người Âu Mỹ hơn. Tên thì gồm có tên quái vật, tên Item, tên phép thuật, tên vũ khí và tên Limit break.
1.Tên quái vật
Ngoài một số tên quái vật có nghĩa như Sabotenda (Saboten trong tiếng Nhật nghĩa là xương rồng) khi chuyển sang tiếng Anh thì được dịch thành Cactuar, Cactrot thì còn có rất nhiều tên quái vật không có nghĩa (chắc vậy) cũng bị thay đổi. Chẳng hạn
Hedge Viper (J) được chuyển thành Anacondaur
Belhelmelhel (ベルへルメルヘル) được chuyển thành Belhelmel
Purinura (プリヌラ) được chuyển thành Blobra
Fokaroru chuyển thành Fastitocalon
Gomani và Doromani (hai bàn tay trái và phải của quái vật Vysage) được chuyển thành Lefty và Righty trong bản tiếng Anh.
Và còn nhiều trường hợp khác
Ngoài ra một số tên quái vật có nghĩa cũng bị thay đổi trong bản tiếng Anh
Life Forbidden --> Forbidden
Hau Lizard --> Geezard
Melt Dragon --> Hexadragon
Red Mouse --> Red Bat
Vân vân...
2. Tên phép thuật
Có khá nhiều tên phép được thay đổi trong bảng tiếng Anh
Gravide --> Demi
Gravija --> Gravity
Arise --> Full Life
Libra --> Scan
Levitate --> Float
Levitega --> Rapture
Vân vân
3. Tên GF
Hầu như tên các GF trong bảng tiếng Nhật được giữ nguyên trong bản tiếng Anh, trừ GF Glasya-Labolas (グラシャラボラス) được chuyển thành Doom Train.
4. Tên vũ khí
Vũ khí trong FF8 không nhiều, nhưng có nhiều cái tên được thay đổi ở bản tiếng Anh
Kiasutoreto --> Shear Trigger
Flametan --> Flame Saber
Lance of Slit --> Twin Lance
Punishment --> Crime & Penalty
Yumeka Maboroshika (nghĩa là "đây là giấc mộng hay ảo ảnh", một món vũ khí của Selphie) --> Strange Vision
5.Tên Limit Break
Valley --> Angle Wing
Head Shock --> Booya
Rush Punch --> Punch Rush
Invisible Moon --> Invincible Moon
Levitega --> Rapture
Grape Shot --> Scatter Shot
Wish Star --> Wishing Star
End of Heart --> Lion Heart
II. Thay đổi gameplay
+ Ở đĩa 3, viện nghiên cứu biển, sau khi đánh bại Bahamut đi xuống chỗ Ultima Weapon thì bạn phải đụng một trận đánh sau 2 bước đi trong bản tiếng Nhật. Nếu có ability Enc Half thì đụng trận sau 4 bước và nếu có Enc-None thì đụng sau 8 bước. Tuy nhiên sang phiên bản tiếng Anh thì nếu có Enc-None thì bạn không phải đụng trận nào.
+ Ở đĩa 1, chỗ hang lửa đánh GF Ifrit. Khi vào hang bạn được chọn thời gian từ 10 phút cho tới 40 phút. Trong bản tiếng Nhật thì sau khi đánh Ifrit đồng hồ vẫn còn chạy trong khi ở bản tiếng Anh chỉ cần hạ Ifrit là đã hết lo về thời gian.
+ Đầu đĩa 1 ở bản tiếng Anh luôn xuất hiện các menu hướng dẫn cách chơi, cách Junction trong khi ở bản tiếng Nhật thì không.
+ Trong bản tiếng Nhật, bạn không thể draw các GF trước đây bỏ sót ở lâu đài Ultimecia (đĩa 4) như ở bản tiếng Anh.
III. Loss in Translation
Dịch tức là phản! Bản tiếng Anh có rất nhiều đoạn hội thoại mang nghĩa mơ hồ và có khi xa hẳn nghĩa gốc trong bản tiếng Nhật. Có thời gian thì tôi sẽ thống kê những chỗ này sau.
IV. Những thay đổi lặt vặt khác
Ngoài những thay đổi dễ nhận biết trên, FF8 bản tiếng Anh còn khá nhiều thay đổi lặt vặt. Chẳng hạn ở đĩa 1, đài truyền hình Tiimber, trong bản tiếng Nhật, khi đi ngang qua cái TV to thì xuất hiện thông điệp "Get me back I am alive" của ma nữ bên ngoài không gian. Tuy nhiên thông điệp này không xuất hiện ở bản tiếng Anh.
Fujin và Raijin là hai đệ tử của Seifer, tên của họ trong tiếng Nhật nghĩa là thần gió và thần sét (Phong thần, Lôi thần). Trong bản tiếng Nhật, câu nói của Fujin luôn gọn lỏn với một từ Kanji. Còn trong bản tiếng Anh, câu nói của Fujin luôn được viết hoa.
V. Ngoài lề
Bạn có bao giờ gặp con quái vật này trong bản tiếng Anh không?
Con quái này thực sự tồn tại trong bản tiếng Nhật (tôi đụng độ nó khi hack dữ liệu của FF8). Nó tên là Dummy, phía sau lưng có hàng chữ "Gomenne" (xin lỗi nhé) và không bao giờ tấn công bạn. Hạ được nó mang lại một ít Exp và vài món Item như Potion.
Sử dụng phép Libra (Scan) lên Dummy thì chỉ thấy bảng chữ cái của tiếng Nhật: a i u e o ka ki ku ke ko...
Friday, 28 May 2010
Giới thiệu Heian Fūunden
Bài này do Asm65816 tổng hợp, dịch từ nhiều nguồn khác nhau.
Heian Fūunden (平安風雲伝-へいあんふううんでん, âm Hán Việt: Bình An phong vân truyện, tạm dịch là chuyện sóng gió kinh đô Heian) là một game thuộc thể loại Simulation RPG do hãng KSS phát hành trên hệ máy SNES vào năm 1995. Do đặc thù của gameplay, nó còn được xếp vào thể loại chiến thuật theo lượt
(Turn base strategy, viết tắt là TBS). Game lấy bối cảnh là nước Nhật thời Heian, thời đại mà ma quỷ và con người còn chung sống với nhau. Lúc mới phát hành, game không được nhiều người biết đến và cũng không có các sách hướng dẫn, sách giới thiệu rầm rộ như những đại biểu tiếng tăm khác của thể loại này.


Hình bìa băng game Heian Fūunden
Khái yếu
Cùng thể loại Simulation RPG, Turn base strategy có thể kể đến các đại biểu như Fire Emblem hay Sūpā Robotto Taisen, nhưng ở các dòng game chiến thuật này thì các tình tiết của câu chuyện dần được hé mở, tiến triển qua từng màn chơi. Tuy nhiên trong Heian Fūunden không có khái niệm màn chơi, không có khái niệm clear map giống như đa phần các game chiến thuật theo lượt. Màn chơi ở đây là bản đồ nước Nhật rộng lớn với các địa danh cổ thời Heian. Người chơi có thể chu du từ miền Hokuriku phía Bắc xuống tận vùng Kyūshū ở phía Nam và đụng độ đối thủ một cách ngẫu nhiên. Trên bản đồ, người chơi có thể tự do di chuyển các nhân vật của mình chứ không được tự động chuyển đến một "địa điểm cưỡng ép" như ở nhiều game TBS khác. Về điểm này thì Heian Fūunden rất giống với dòng game Final Fantasy. Tuy nhiên, khi vào các trận đánh ngẫu nhiên thì người chơi có thể thấy rõ tính chiến thuật theo lượt của nó. Đúng như định nghĩa về thể loại này, người chơi lần lượt di chuyển các nhân vật của mình trong một lượt đi rồi sau đó nhường lượt cho máy tính, giống như đa phần các game TBS khác. Điểm khác biệt ở đây là mức độ sát thương của nhân vật gây ra trên đối thủ không chỉ lệ thuộc vào các chỉ số của nhân vật và đối phương mà còn phụ thuộc vào vị trí, địa hình tương đối giữa bên tấn công và bên nhận đòn. Điểm này thì game lại giống với Tactic Orge. Một điểm khác biệt nữa là khi bị tấn công, nhân vật không thể phản đòn trừ một số nhân vật sử dụng kỹ năng phản đòn. Hệ thống nhân vật trong Heian Fūunden rất phong phú. Từng loại binh chủng (class) mà nhân vật lại có những kỹ năng khác nhau. Các binh chủng chiến binh, Samurai thì có các kỹ năng, tuyệt chiêu dụng kiếm trong khi các binh chủng pháp sư, Âm Dương Sư thì có kỹ năng sử dụng chú pháp, triệu hồi Shikigami, đọc Chân ngôn cầu các vị Long thần hộ pháp trợ lực.
Đã là một game Simulation RPG thì Heian Fūunden phải có đủ các điều kiện đặc trưng của nó. Điểm đặc trưng nhất là người chơi thua cuộc khi để nhân vật chính là Kagura tử trận. Nhưng không chỉ có vậy, một điều kiện nữa là phải bảo vệ kinh đô không bị bọn quỷ Yamawaro xâm chiếm. Quân địch cũng chia làm hai loại: một loại cố định trên bản đồ, là các con trùm và liên tục sản sinh ra một loại khác là bọn yêu quái, sơn tặc di chuyển trên bản đồ. Để câu chuyện tiến triển thì người chơi phải tiêu diệt các con trùm cố định trong khi phải bảo vệ kinh đô, không để bọn tiểu yêu sinh ra từ những con trùm này xâm chiếm. Vì vậy có rất nhiều hướng đi để người chơi lựa chọn, rất nhiều tình huống có thể xảy ra vì có thể phân chia các nhân vật của mình thành nhiều đội quân khác nhau. Người chơi có quyền quyết định cho đội quân nào trấn thủ ở đâu, đội nào tiến đến đâu để tiêu diệt địch. Nói cách khác, Heian Fūunden bao gồm cả tính chiến thuật và tính chiến lược. Nếu tính chiến thuật được thể hiện qua các trận đấu ngẫu nhiên trên bản đồ thì việc sắp xếp nhân vật, bố trí quân đội sao cho tiến quân, luyện exp có hiệu quả nhất đòi hỏi cái nhìn chiến lược của người chơi.
Lấy bối cảnh là thời Heian và mang đề tài truyền kỳ, Fantasy nên Heian Fūunden mang nhiều màu sắc huyễn tưởng, đậm phong cách truyền thống Nhật Bản. Các pháp thuật đều mang tên của các chú, ấn Phật giáo và Thần đạo. Item trong game cũng là những món Phật cụ, dụng cụ thường nhật, tu hành của các hành giả, pháp sư đương thời chày Kim Cang, đàn Tỳ Bà.... Nội dung của game cũng nửa ảo nữa thực, hòa trộn giữa các chi tiết lịch sử và hoang đường với nhau tạo nên một màu sắc đặc biệt. Các nhân vật trong game phần lớn là nhân vật lịch sử bên cạnh một số nhân vật hư cấu.

Màn hình tiêu đề của game
Nội dung
Câu chuyện của Heian Fūunden xoay quanh việc quỷ tộc Yamawaro đột nhiên tạo phản, chống lại Triều đình, sau biến cố Taira no Masakado gây loạn 60 năm. Để bảo vệ kinh đô, quan Thái chính đại thần Fujiwara Michinaga ủy lại cho Âm Dương Sư Kamo Hiroyuki và Abe no Seimei thu thập tin tức, điều tra về sự việc này. Seimei cho hay người đệ tử thân tín của mình là Âm Dương Sư Ashiya Dōma đã bắt tay với tộc Yamawarawa và có khả năng sẽ gọi oan hồn của Taira no Masakado trở lại dương thế để tác oai tác quái. Taira no Masakado còn được gọi là Shōmon, là một tướng lãnh của Triều đình Heian nhưng sau tạo phản, bị hành hình và mang oán niệm với Triều đình. Để cứu kinh đô khỏi hiểm họa này, Seimei đã chỉ định thiếu niên Kagura ở đền thờ Kumano đi khắp các vùng miền của nước Nhật để ngăn chặn kế hoạch gọi hồn của quỷ tộc Yamawaro. Thế lực thù địch chủ yếu trong Heian Fūunden là Yamawarawa, một tộc thiểu số sống bằng nghề bùa chú thời Heian, nhưng dần về sau được miêu tả như là lực lượng tà quỷ (Oni). Để chống lại bọn quỷ dữ, các Samurai sử dụng thanh kiếm của mình, các Âm Dương Sư sử dụng Shikigami, các tăng lữ phái Phật giáo Chân ngôn (Shingonshū) sử dụng Pháp ấn, các Shugenja thuộc phái Thiên Đài (Tendaishū) sử dụng pháp thuật và các vu nữ sử dụng pháp thuật hồi phục cùng bắt tay với nhau trong chuyến du hành của đại tướng Kagura. Trong game, người chơi bắt gặp rất nhiều nhân vật lịch sử như Minamoto no Raikō, Fujiwara no Sumitomo cùng tồn tại với các nhân vật không tưởng. Hư thực lẫn lộn là một điểm thú vị của Heian Fūunden. Ngoài ra, người chơi còn bắt gặp Thiên Hoàng Ichijō, Pháp Hoàng Kazan qua câu chuyện. Tuy không trực tiếp tham gia chiến đấu nhưng họ là những nhân vật quan trọng trong câu chuyện.

Các pháp thuật trong game
Các kỹ năng
Bảng dưới đây liệt kê các loại kỹ năng, chú pháp của từng binh chủng.
Pháp thuật của các nhà sư Mật giáo
* Hỏa Thiên Pháp Ấn (火天法印-Katen Hōin): tấn công thuộc tính hỏa, tác dụng với một Unit địch.
* Thủy Thiên Pháp Ấn (水天法印-Suiten Hōin): tấn công thuộc tính băng, tác dụng với một Unit địch.
* Phong Thiên Pháp Ấn (風天法印-Fūten Hōin): tấn công thuộc tính phong, tác dụng với một Unit địch.
* Nhật Thiên Pháp Ấn (日天法印-Nitten Hōin): tấn công thuộc tính quang, tác dụng với một Unit địch.
* Phạm Thiên Pháp Ấn (梵天法印-Bonten Hōin): tấn công thuộc tính ba động, tác dụng với một Unit địch.
* Nguyệt Thiên Pháp Ấn (月天法印-Getten Hōin): tấn công thuộc tính tinh thần, tác dụng với một Unit địch.
* Đế Thích Thiên Ấn (帝釈天印-Taishakutenin): tấn công thuộc tính lôi, tác dụng với một Unit địch.
* Bất Động Pháp Ấn (不動法印-Fudō Hōin): tấn công thuộc tính hỏa, tác dụng với tất cả địch trên một đường thẳng.
* Hàng Tam Thế Ấn (降三世印-Gōzanze-in): tấn công thuộc tính băng, tác dụng với tất cả địch trên một đường thẳng.
* Đại Uy Đức Ấn (大威徳印- Daitoku-in): tấn công thuộc tính phong, tác dụng với tất cả địch trên một đường thẳng.
* Kim Cang Pháp Ấn (金剛法印-Kongō Hōin): tấn công vật lý, tác dụng với tất cả địch trên một đường thẳng.
* Quân Trà Lợi Ấn (軍荼利印-Gunchari-in): tấn công thuộc tính tinh thần, tác dụng với tất cả địch trên một đường thẳng.
* Tứ Thiên Vương Ấn (四天王印-Shitennō-in): tấn công thuộc tính quang, tác dụng với tất cả địch trong phạm vi 4 ô quanh người dùng.
* Hoan Hỷ Thiên Ấn (歓喜天-Kangiten-in): tấn công thuộc tính tinh thần, tác dụng với tất cả địch trong phạm vi 3 ô được chỉ định.
* Tự Tại Thiên Ấn (自在天印-Jizaiten-in): tấn công thuộc tính phong, tác dụng với tất cả Unit trong phạm vi 4 ô quanh người dùng.
* Đại Nguyên Súy Ấn (大元帥印-Daigensui-in): tấn công thuộc tính ba động, tác dụng với tất cả địch trên màn hình.
* Đại Nhật Pháp Ấn (大日法印-Dainichi Hōin): tấn công thuộc tính quang, tác dụng với tất cả Unit trong phạm vi 3x6 ô do người dùng chỉ định.
* Văn Thù Pháp Ấn (文殊法印-Monju Hōin): tăng chú lực cho đồng minh.
* A Di Đà Ấn (阿弥陀印-Amida-in): tăng kỹ lượng cho đồng minh.
* Dược Sư Pháp Ấn (薬師法印-Yakushi Hōin): hồi phục một nửa HP cho đồng minh.
* Quán Thế Âm Ấn (観世音印-Kanzen-on-in): chữa trạng thái tê liệt cho đồng minh.
* Thế Chí Pháp Ấn (勢至法印-Seishi Hōin): tăng phòng ngự cho đồng minh.
Âm thanh tinh linh
* Kasei Shōkan (火精召喚, triệu hồi tinh linh lửa): tấn công thuộc tính lửa, tác dụng lên Unit địch bên cạnh.
* Mokusei Shōkan (木精召喚, triều hồi tinh linh cây): tấn công thuộc tính gió, tác dụng lên Unit địch bên cạnh.
* Ryūsen (流泉, khúc nhạc Lưu Tuyền): gia tăng lực tấn công cho toàn đồng minh.
* Takuboku (啄木, khúc nhạc Trác Mộc): gia tăng lực phòng ngự cho toàn đồng minh.
* Kagura Uta (神楽唄, nhạc tế thần): gia tăng kỹ lượng cho toàn đồng minh.
Pháp thuật Thần đạo
* Fukuju Gohō (福寿護法, phúc thọ Hộ pháp): hồi phục HP cho một Unit đồng minh.
* Hōju Gohō (宝珠護法, bảo châu Hộ pháp): hồi phục HP cho một Unit đồng minh ở vị trí bất kỳ.
* Kōshin Gohō (光神護法, quang thần Hộ pháp): hồi phục HP cho toàn đồng minh, trừ bản thân.
* Jōka Seihō (浄化聖法,tịnh hóa thánh pháp): chữa trạng thái tê liệt cho toàn đồng minh, trừ bản thân.
* Hino Kotodama (火乃言霊, lời của lửa): tấn công một Unit địch.
* Mizu no Kotodama (水乃言霊, lời của nước): tấn công một Unit địch.
* Kaze no Kotodama (風乃言霊, lời của gió): tấn công một Unit địch.
* Tsuchi no Kotodama (土乃言霊, lời của đất): tấn công một Unit địch, gây tê liệt.
* Amaterakami Hō (天照神法, pháp thuật của nữ thần Thái dương): hồi phục HP, chữa tê liệt, gia tăng năng lực cho toàn đồng minh.
Shikigami
* Fugaeshi Juhō (符返呪法): chú pháp làm biến mất một Unit Shikigami của địch.
* Seimei Juhō (晴明呪法): chú pháp của Seimei, làm biến mất toàn bộ Shikigami của địch, phong ấn khả năng triệu hồi Shikigami trong một thời gian nhất định.
* Onishibari Juhō (鬼縛呪法): chú pháp trói quỷ, làm một Unit Shikigami của địch không hoạt động được.
* Fūki Juhō (封鬼呪法): chú pháp làm tan biến một Unit Shikigami ở khoảng cách bất kỳ.
Chú thuật Yamawaro
* Đại Hắc Thiên Ấn (大黒天印-Daikokuten-in): tấn công thuộc tính hắc ám, tác dụng với tất cả Unit trong phạm vi 4 ô quanh người dùng.
* Hàng Ma Tà Pháp (降魔邪法-Gōma Jahō): tấn công toàn thể địch, phong ấn khả năng dùng pháp thuật trong một thời gian.
* Hàng Thần Tà Pháp (降神邪法-Kōshin Jahō): tấn công toàn thể địch, làm tê liệt.
* Viêm Thần Tà Pháp (炎神邪法- Enjin Jahō): tấn công toàn thể địch.
* Thủy Thần Tà Pháp (水神邪法-Suijin Jahō): tấn công toàn thể địch.
* Phong Thần Tà Pháp (風神邪法- Fūjin Jahō): tấn công toàn thể địch.
Kiếm pháp của võ sĩ
* Iaigiri (居合斬り): thuật rút kiếm nhanh khiến địch thủ chết tại chỗ (trừ Unit đội trưởng và boss).
* Nidangiri (二段斬り): chém hai lần.
* Midaregiri (乱れ斬り): chém loạn xạ, tác dụng với toàn thể địch quanh người dùng.
* Tosshin giri (突進斬り): đâm tất cả địch trên một đường thẳng theo hướng chỉ định.
* Shinkū giri (真空斬り): chân không trảm, tác dụng với địch ở cách xa 3 ô.
* Kaeshigiri (返し斬り): tránh đòn đối phương, phản đòn.
* Kantsū giri (貫通斬り): đâm tất cả đối phương trên đường thẳng.
* Kintokigeri (公時蹴り): đòn đá chuyên dụng của Sakata no Kintoki làm địch văng đi xa.
* Mikiri (見切り): tránh đòn địch.
* Taiatari (体当たり): đâm sầm vào địch, làm văng đi vài ô.
* Kiai (気合い): hồi phục HP cho bản thân.
* Konjō (根性): tăng lực phòng ngự cho bản thân.
* Renki (錬気): tăng lực tấn công cho bản thân.
Liên kết ngoài
* Trang web giới thiệu, hướng dẫn về Heian Fūunden (tiếng Nhật)
* Review Heian Fūunden (tiếng Nhật)
Heian Fūunden (平安風雲伝-へいあんふううんでん, âm Hán Việt: Bình An phong vân truyện, tạm dịch là chuyện sóng gió kinh đô Heian) là một game thuộc thể loại Simulation RPG do hãng KSS phát hành trên hệ máy SNES vào năm 1995. Do đặc thù của gameplay, nó còn được xếp vào thể loại chiến thuật theo lượt
(Turn base strategy, viết tắt là TBS). Game lấy bối cảnh là nước Nhật thời Heian, thời đại mà ma quỷ và con người còn chung sống với nhau. Lúc mới phát hành, game không được nhiều người biết đến và cũng không có các sách hướng dẫn, sách giới thiệu rầm rộ như những đại biểu tiếng tăm khác của thể loại này.
Hình bìa băng game Heian Fūunden
Khái yếu
Cùng thể loại Simulation RPG, Turn base strategy có thể kể đến các đại biểu như Fire Emblem hay Sūpā Robotto Taisen, nhưng ở các dòng game chiến thuật này thì các tình tiết của câu chuyện dần được hé mở, tiến triển qua từng màn chơi. Tuy nhiên trong Heian Fūunden không có khái niệm màn chơi, không có khái niệm clear map giống như đa phần các game chiến thuật theo lượt. Màn chơi ở đây là bản đồ nước Nhật rộng lớn với các địa danh cổ thời Heian. Người chơi có thể chu du từ miền Hokuriku phía Bắc xuống tận vùng Kyūshū ở phía Nam và đụng độ đối thủ một cách ngẫu nhiên. Trên bản đồ, người chơi có thể tự do di chuyển các nhân vật của mình chứ không được tự động chuyển đến một "địa điểm cưỡng ép" như ở nhiều game TBS khác. Về điểm này thì Heian Fūunden rất giống với dòng game Final Fantasy. Tuy nhiên, khi vào các trận đánh ngẫu nhiên thì người chơi có thể thấy rõ tính chiến thuật theo lượt của nó. Đúng như định nghĩa về thể loại này, người chơi lần lượt di chuyển các nhân vật của mình trong một lượt đi rồi sau đó nhường lượt cho máy tính, giống như đa phần các game TBS khác. Điểm khác biệt ở đây là mức độ sát thương của nhân vật gây ra trên đối thủ không chỉ lệ thuộc vào các chỉ số của nhân vật và đối phương mà còn phụ thuộc vào vị trí, địa hình tương đối giữa bên tấn công và bên nhận đòn. Điểm này thì game lại giống với Tactic Orge. Một điểm khác biệt nữa là khi bị tấn công, nhân vật không thể phản đòn trừ một số nhân vật sử dụng kỹ năng phản đòn. Hệ thống nhân vật trong Heian Fūunden rất phong phú. Từng loại binh chủng (class) mà nhân vật lại có những kỹ năng khác nhau. Các binh chủng chiến binh, Samurai thì có các kỹ năng, tuyệt chiêu dụng kiếm trong khi các binh chủng pháp sư, Âm Dương Sư thì có kỹ năng sử dụng chú pháp, triệu hồi Shikigami, đọc Chân ngôn cầu các vị Long thần hộ pháp trợ lực.
Đã là một game Simulation RPG thì Heian Fūunden phải có đủ các điều kiện đặc trưng của nó. Điểm đặc trưng nhất là người chơi thua cuộc khi để nhân vật chính là Kagura tử trận. Nhưng không chỉ có vậy, một điều kiện nữa là phải bảo vệ kinh đô không bị bọn quỷ Yamawaro xâm chiếm. Quân địch cũng chia làm hai loại: một loại cố định trên bản đồ, là các con trùm và liên tục sản sinh ra một loại khác là bọn yêu quái, sơn tặc di chuyển trên bản đồ. Để câu chuyện tiến triển thì người chơi phải tiêu diệt các con trùm cố định trong khi phải bảo vệ kinh đô, không để bọn tiểu yêu sinh ra từ những con trùm này xâm chiếm. Vì vậy có rất nhiều hướng đi để người chơi lựa chọn, rất nhiều tình huống có thể xảy ra vì có thể phân chia các nhân vật của mình thành nhiều đội quân khác nhau. Người chơi có quyền quyết định cho đội quân nào trấn thủ ở đâu, đội nào tiến đến đâu để tiêu diệt địch. Nói cách khác, Heian Fūunden bao gồm cả tính chiến thuật và tính chiến lược. Nếu tính chiến thuật được thể hiện qua các trận đấu ngẫu nhiên trên bản đồ thì việc sắp xếp nhân vật, bố trí quân đội sao cho tiến quân, luyện exp có hiệu quả nhất đòi hỏi cái nhìn chiến lược của người chơi.
Lấy bối cảnh là thời Heian và mang đề tài truyền kỳ, Fantasy nên Heian Fūunden mang nhiều màu sắc huyễn tưởng, đậm phong cách truyền thống Nhật Bản. Các pháp thuật đều mang tên của các chú, ấn Phật giáo và Thần đạo. Item trong game cũng là những món Phật cụ, dụng cụ thường nhật, tu hành của các hành giả, pháp sư đương thời chày Kim Cang, đàn Tỳ Bà.... Nội dung của game cũng nửa ảo nữa thực, hòa trộn giữa các chi tiết lịch sử và hoang đường với nhau tạo nên một màu sắc đặc biệt. Các nhân vật trong game phần lớn là nhân vật lịch sử bên cạnh một số nhân vật hư cấu.
Màn hình tiêu đề của game
Nội dung
Câu chuyện của Heian Fūunden xoay quanh việc quỷ tộc Yamawaro đột nhiên tạo phản, chống lại Triều đình, sau biến cố Taira no Masakado gây loạn 60 năm. Để bảo vệ kinh đô, quan Thái chính đại thần Fujiwara Michinaga ủy lại cho Âm Dương Sư Kamo Hiroyuki và Abe no Seimei thu thập tin tức, điều tra về sự việc này. Seimei cho hay người đệ tử thân tín của mình là Âm Dương Sư Ashiya Dōma đã bắt tay với tộc Yamawarawa và có khả năng sẽ gọi oan hồn của Taira no Masakado trở lại dương thế để tác oai tác quái. Taira no Masakado còn được gọi là Shōmon, là một tướng lãnh của Triều đình Heian nhưng sau tạo phản, bị hành hình và mang oán niệm với Triều đình. Để cứu kinh đô khỏi hiểm họa này, Seimei đã chỉ định thiếu niên Kagura ở đền thờ Kumano đi khắp các vùng miền của nước Nhật để ngăn chặn kế hoạch gọi hồn của quỷ tộc Yamawaro. Thế lực thù địch chủ yếu trong Heian Fūunden là Yamawarawa, một tộc thiểu số sống bằng nghề bùa chú thời Heian, nhưng dần về sau được miêu tả như là lực lượng tà quỷ (Oni). Để chống lại bọn quỷ dữ, các Samurai sử dụng thanh kiếm của mình, các Âm Dương Sư sử dụng Shikigami, các tăng lữ phái Phật giáo Chân ngôn (Shingonshū) sử dụng Pháp ấn, các Shugenja thuộc phái Thiên Đài (Tendaishū) sử dụng pháp thuật và các vu nữ sử dụng pháp thuật hồi phục cùng bắt tay với nhau trong chuyến du hành của đại tướng Kagura. Trong game, người chơi bắt gặp rất nhiều nhân vật lịch sử như Minamoto no Raikō, Fujiwara no Sumitomo cùng tồn tại với các nhân vật không tưởng. Hư thực lẫn lộn là một điểm thú vị của Heian Fūunden. Ngoài ra, người chơi còn bắt gặp Thiên Hoàng Ichijō, Pháp Hoàng Kazan qua câu chuyện. Tuy không trực tiếp tham gia chiến đấu nhưng họ là những nhân vật quan trọng trong câu chuyện.
Các pháp thuật trong game
Các kỹ năng
Bảng dưới đây liệt kê các loại kỹ năng, chú pháp của từng binh chủng.
Pháp thuật của các nhà sư Mật giáo
* Hỏa Thiên Pháp Ấn (火天法印-Katen Hōin): tấn công thuộc tính hỏa, tác dụng với một Unit địch.
* Thủy Thiên Pháp Ấn (水天法印-Suiten Hōin): tấn công thuộc tính băng, tác dụng với một Unit địch.
* Phong Thiên Pháp Ấn (風天法印-Fūten Hōin): tấn công thuộc tính phong, tác dụng với một Unit địch.
* Nhật Thiên Pháp Ấn (日天法印-Nitten Hōin): tấn công thuộc tính quang, tác dụng với một Unit địch.
* Phạm Thiên Pháp Ấn (梵天法印-Bonten Hōin): tấn công thuộc tính ba động, tác dụng với một Unit địch.
* Nguyệt Thiên Pháp Ấn (月天法印-Getten Hōin): tấn công thuộc tính tinh thần, tác dụng với một Unit địch.
* Đế Thích Thiên Ấn (帝釈天印-Taishakutenin): tấn công thuộc tính lôi, tác dụng với một Unit địch.
* Bất Động Pháp Ấn (不動法印-Fudō Hōin): tấn công thuộc tính hỏa, tác dụng với tất cả địch trên một đường thẳng.
* Hàng Tam Thế Ấn (降三世印-Gōzanze-in): tấn công thuộc tính băng, tác dụng với tất cả địch trên một đường thẳng.
* Đại Uy Đức Ấn (大威徳印- Daitoku-in): tấn công thuộc tính phong, tác dụng với tất cả địch trên một đường thẳng.
* Kim Cang Pháp Ấn (金剛法印-Kongō Hōin): tấn công vật lý, tác dụng với tất cả địch trên một đường thẳng.
* Quân Trà Lợi Ấn (軍荼利印-Gunchari-in): tấn công thuộc tính tinh thần, tác dụng với tất cả địch trên một đường thẳng.
* Tứ Thiên Vương Ấn (四天王印-Shitennō-in): tấn công thuộc tính quang, tác dụng với tất cả địch trong phạm vi 4 ô quanh người dùng.
* Hoan Hỷ Thiên Ấn (歓喜天-Kangiten-in): tấn công thuộc tính tinh thần, tác dụng với tất cả địch trong phạm vi 3 ô được chỉ định.
* Tự Tại Thiên Ấn (自在天印-Jizaiten-in): tấn công thuộc tính phong, tác dụng với tất cả Unit trong phạm vi 4 ô quanh người dùng.
* Đại Nguyên Súy Ấn (大元帥印-Daigensui-in): tấn công thuộc tính ba động, tác dụng với tất cả địch trên màn hình.
* Đại Nhật Pháp Ấn (大日法印-Dainichi Hōin): tấn công thuộc tính quang, tác dụng với tất cả Unit trong phạm vi 3x6 ô do người dùng chỉ định.
* Văn Thù Pháp Ấn (文殊法印-Monju Hōin): tăng chú lực cho đồng minh.
* A Di Đà Ấn (阿弥陀印-Amida-in): tăng kỹ lượng cho đồng minh.
* Dược Sư Pháp Ấn (薬師法印-Yakushi Hōin): hồi phục một nửa HP cho đồng minh.
* Quán Thế Âm Ấn (観世音印-Kanzen-on-in): chữa trạng thái tê liệt cho đồng minh.
* Thế Chí Pháp Ấn (勢至法印-Seishi Hōin): tăng phòng ngự cho đồng minh.
Âm thanh tinh linh
* Kasei Shōkan (火精召喚, triệu hồi tinh linh lửa): tấn công thuộc tính lửa, tác dụng lên Unit địch bên cạnh.
* Mokusei Shōkan (木精召喚, triều hồi tinh linh cây): tấn công thuộc tính gió, tác dụng lên Unit địch bên cạnh.
* Ryūsen (流泉, khúc nhạc Lưu Tuyền): gia tăng lực tấn công cho toàn đồng minh.
* Takuboku (啄木, khúc nhạc Trác Mộc): gia tăng lực phòng ngự cho toàn đồng minh.
* Kagura Uta (神楽唄, nhạc tế thần): gia tăng kỹ lượng cho toàn đồng minh.
Pháp thuật Thần đạo
* Fukuju Gohō (福寿護法, phúc thọ Hộ pháp): hồi phục HP cho một Unit đồng minh.
* Hōju Gohō (宝珠護法, bảo châu Hộ pháp): hồi phục HP cho một Unit đồng minh ở vị trí bất kỳ.
* Kōshin Gohō (光神護法, quang thần Hộ pháp): hồi phục HP cho toàn đồng minh, trừ bản thân.
* Jōka Seihō (浄化聖法,tịnh hóa thánh pháp): chữa trạng thái tê liệt cho toàn đồng minh, trừ bản thân.
* Hino Kotodama (火乃言霊, lời của lửa): tấn công một Unit địch.
* Mizu no Kotodama (水乃言霊, lời của nước): tấn công một Unit địch.
* Kaze no Kotodama (風乃言霊, lời của gió): tấn công một Unit địch.
* Tsuchi no Kotodama (土乃言霊, lời của đất): tấn công một Unit địch, gây tê liệt.
* Amaterakami Hō (天照神法, pháp thuật của nữ thần Thái dương): hồi phục HP, chữa tê liệt, gia tăng năng lực cho toàn đồng minh.
Shikigami
* Fugaeshi Juhō (符返呪法): chú pháp làm biến mất một Unit Shikigami của địch.
* Seimei Juhō (晴明呪法): chú pháp của Seimei, làm biến mất toàn bộ Shikigami của địch, phong ấn khả năng triệu hồi Shikigami trong một thời gian nhất định.
* Onishibari Juhō (鬼縛呪法): chú pháp trói quỷ, làm một Unit Shikigami của địch không hoạt động được.
* Fūki Juhō (封鬼呪法): chú pháp làm tan biến một Unit Shikigami ở khoảng cách bất kỳ.
Chú thuật Yamawaro
* Đại Hắc Thiên Ấn (大黒天印-Daikokuten-in): tấn công thuộc tính hắc ám, tác dụng với tất cả Unit trong phạm vi 4 ô quanh người dùng.
* Hàng Ma Tà Pháp (降魔邪法-Gōma Jahō): tấn công toàn thể địch, phong ấn khả năng dùng pháp thuật trong một thời gian.
* Hàng Thần Tà Pháp (降神邪法-Kōshin Jahō): tấn công toàn thể địch, làm tê liệt.
* Viêm Thần Tà Pháp (炎神邪法- Enjin Jahō): tấn công toàn thể địch.
* Thủy Thần Tà Pháp (水神邪法-Suijin Jahō): tấn công toàn thể địch.
* Phong Thần Tà Pháp (風神邪法- Fūjin Jahō): tấn công toàn thể địch.
Kiếm pháp của võ sĩ
* Iaigiri (居合斬り): thuật rút kiếm nhanh khiến địch thủ chết tại chỗ (trừ Unit đội trưởng và boss).
* Nidangiri (二段斬り): chém hai lần.
* Midaregiri (乱れ斬り): chém loạn xạ, tác dụng với toàn thể địch quanh người dùng.
* Tosshin giri (突進斬り): đâm tất cả địch trên một đường thẳng theo hướng chỉ định.
* Shinkū giri (真空斬り): chân không trảm, tác dụng với địch ở cách xa 3 ô.
* Kaeshigiri (返し斬り): tránh đòn đối phương, phản đòn.
* Kantsū giri (貫通斬り): đâm tất cả đối phương trên đường thẳng.
* Kintokigeri (公時蹴り): đòn đá chuyên dụng của Sakata no Kintoki làm địch văng đi xa.
* Mikiri (見切り): tránh đòn địch.
* Taiatari (体当たり): đâm sầm vào địch, làm văng đi vài ô.
* Kiai (気合い): hồi phục HP cho bản thân.
* Konjō (根性): tăng lực phòng ngự cho bản thân.
* Renki (錬気): tăng lực tấn công cho bản thân.
Liên kết ngoài
* Trang web giới thiệu, hướng dẫn về Heian Fūunden (tiếng Nhật)
* Review Heian Fūunden (tiếng Nhật)
Saturday, 3 April 2010
Fire Emblem 3: another version
Đây là bản đã chỉnh lại phần arena. Bản này các nhân vật có thể lựa chọn vũ khí để mang vào đấu trường như trong FE4.


Link down:
http://www.mediafire.com/?zwkz2tzydyz
Link down:
http://www.mediafire.com/?zwkz2tzydyz
Wednesday, 17 February 2010
Fire Emblem Seisen no Keifu Wikipedia
Bài viết còn được đăng tại
http://vi.wikipedia.org/wiki/Seisen_no_Keifu
Người viết: Asm65816
http://vi.wikipedia.org/wiki/Seisen_no_Keifu
Người viết: Asm65816
Fire Emblem Seisen no Keifu (tiếng Nhật: ファイアーエムブレム 聖戦の系譜) là phiên bản game thứ 4 trong series game chiến thuật Fire Emblem được hãng Nintendō phát hành vào ngày 14 tháng 5 năm 1996. Tên game có nghĩa là "phả hệ của cuộc thánh chiến". Đây là phiên bản Fire Emblem thứ hai trên hệ máy Snes và cũng là game Fire Emblem cuối cùng của Yokoi Gumpei. Game này còn được cung cấp qua Wii Virtual Console ngày 30 tháng 01 năm 2007. Fire Emblem Seisen no Keifu thường được gọi tắt là FE4 trong cộng đồng gamer.

Menu của Fire Emblem Seisen no Keifu
Khái yếu
Seisen no Keifu (từ nay sẽ gọi tắt là Seisen) là tác phẩm thứ 4 trong series Fire Emblem (từ nay sẽ gọi tắt là FE) với thế giới quan hoàn toàn khác hẳn so với các phiên bản trước. Bối cảnh của game là đại lục Jugdrall, nơi diễn ra cuộc chiến tranh được gọi là "thánh chiến" và truyền thuyết về các thánh chiến sĩ mang lại hòa bình và hậu thân của họ. Giống với phiên bản trước là Monshō no Nazo, Seisen cũng được cấu thành gồm hai phần nhưng Seisen đi sâu vào quan hệ giữa các quốc gia trong đại lục. Nó nhấn mạnh vào các cuộc chiến giữa các nước, đề cập tới khía cạnh một mặt thì mong muốn hòa bình cho đất nước mình nhưng mặt khác lại tiến hành xâm lược tha quốc. Một đặc trưng của Seisen là nó xoáy sâu vào các bi kịch được triển khai từ chiến tranh. Theo nhà phát triển thì ý đồ của họ là "muốn truyền đạt những nỗi đau của chiến tranh" đến người chơi thông qua câu chuyện của Seisen.
Một đặc điểm nữa là Fire Emblem, vật tượng trưng đã trở thành thương hiệu của series game này đã không còn giữ vị trí quan trọng như trong các phiên bản trước nữa. Nếu trước đây "dấu ấn lửa" luôn giữ vai trò chìa khóa quan trọng để giải quyết vấn đề thì trong Seisen, nó chỉ là gia huy của một nhà công tước mà thôi. Vì vậy nó không liên hệ mật thiết đến cốt truyện mà chỉ xuất hiện khá mờ nhạt.
Về mặt gameplay thì Seisen có nhiều đổi mới đáng kể để các phiên bản sau kế thừa, chẳng hạn như hệ thống skill (kỹ năng), yếu tố "bao-búa-kéo" giữa các loại vũ khí, khả năng tiếp tục di chuyển của kỵ binh sau khi hành động. Mặt khác Seisen còn có nhiều yếu tố độc đáo của riêng nó như bản đồ rộng, hệ thống luyến ái giữa các nhân vật, cách tính tần số, độ thành thạo vũ khí,...
Theo tiến triển của câu chuyện, trong quá trình chơi, giữa các nhân vật sẽ nảy sinh tình cảm luyến ái và đưa đến hôn nhân để cho ra đời thế hệ sau. Tùy vào cách "ghép cặp" của người chơi mà các nhân vật ở thế hệ sau sẽ thay đổi khác nhau. Đây là một điều làm nên sức hấp dẫn độc đáo của Seisen, đến nỗi đã hơn 10 năm kể từ ngày phát hành, nó vẫn được rất nhiều người chơi hâm mộ và chơi đi chơi lại cho đến tận ngày nay, bởi lẽ mỗi lần chơi là mỗi lần trải nghiệm khác nhau. Tên các nhân vật chủ yếu và các Item truyền thuyết trong game đều bắt nguồn từ thần thoại Bắc Âu, bên cạnh đó các địa danh trong game cũng ít nhiều liên quan đến địa danh, thần thoại các nước trong thực tế.
Thiết kế chính (Game designer): Kaga Shōzō Super Adviser: Terasaki Keisuke Chief Conductor: Narita Tsū Âm nhạc: Yokotsuji Yuka
Nội dung
Năm 440 lịch Gran, Hắc ám thần Loputousu giáng lâm vào đại tư giáo Gale. Ông ta thành lập nên giáo đoàn hắc ám Loputo tôn sùng Hắc ám thần Loputousu. Năm 447, xảy ra loạn thập nhị ma tướng, nước cộng hòa Gran diệt vong và Đế quốc Loputo được thành lập. Đế quốc Loputo săn lùng trẻ con, sát hại dân lành, gieo rắc sự hoảng sợ khắp nơi. Trong bối cảnh đó, vào năm 553, người em trai của Hoàng đế Loputo là Hoàng thân Maira đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa, kêu gọi lật đổ Loputo ở khắp nơi. Cuộc phản loạn bành trướng với quy mô lớn nhưng rồi đội quân giải phóng bị dồn đến chân tuyệt vọng, cuối cùng co cụm trong đồn Darna. Lúc đó "thần linh" giáng lâm vào 12 chiến sĩ quân giải phóng trong đồn, và thế là 12 thánh chiến sĩ huyền thoại đản sinh vào năm 632, lịch Gran.

Cảnh mở đầu của Fire Emblem Seisen no Keifu
Được 12 thánh chiến sĩ giúp sức, đội quân giải phóng bắt đầu cuộc thánh chiến lật đổ Đế quốc Loputo vào năm sau. Năm 648, 15 năm sau đó, họ đã tiêu diệt được Đế quốc Loputo. Thập nhị thánh chiến sĩ anh hùng tản mác đi khắp nơi, họ gây dựng nên bảy công quốc hợp thành đại vương quốc Granbell và năm vương quốc lân bang. Sau đó khoảng trăm năm, vào năm 757, xảy ra việc vương quốc Isaac ở phương Đông nổi loạn. Trong khi vương quốc Granbell gửi binh đi trấn áp Isaac thì bất ngờ nước láng giềng Verdane đột phá đường biên giới, bắt công nương Edin thuộc công quốc Junvy. Công tử Sigurd được cha là Bairon giao cho trấn thủ thành Chalphy khi viễn chinh phạt Isaac. Đứng trước nguy cơ đất nước bị Verdane tấn công, Sigurd đã quyết định xuất binh. Và lúc này, không một ai biết trước rằng trận đánh này sẽ mở màn cho những bi kịch xảy ra sau đó...
Gameplay
Bản đồ chiến đấu rộng lớn
Toàn bộ game được chia thành 12 màn, con số quá ít so với các phiên bản trước. Tuy nhiên, mỗi một màn của Seisen lại rất rộng lớn và được chia thành nhiều "phân cảnh" nhỏ. Khác với các phiên bản khác, Seisen không có màn nào chiến đấu trong thành và toàn bộ đơn vị đều được phép xuất kích trong map thay vì bị hạn chế số lượng như ở phiên bản khác. Giống như các phiên bản khác, điều kiện thắng lợi trong Seisen là chiếm được cứ điểm của quân địch. Nhưng không dễ dàng như vậy. Đầu tiên, người chơi chỉ có thể di chuyển trong một phần nhỏ của toàn bản đồ. Sau khi chiếm được thành của quân địch trong phần lãnh địa đó thì sẽ có các event làm xuất hiện thêm đường đi mới, quân địch mới và phạm vi hành động của người chơi cũng được mở rộng. Game cho phép người chơi save ở đầu mỗi Turn trong từng màn.
Hệ thống skill
Ngoài các thông số như sức mạnh, tốc độ ra thì các nhân vật trong Seisen còn có hệ thống skill ảnh hưởng tới năng lực của họ. Skill được phân làm hai loại là skill binh chủng và skill cá nhân. Skill binh chủng là đặc thù của từng loại class và bất cứ nhân vật nào ở class đó cũng đều có được skill tương ứng. Skill cá nhân là riêng biệt của từng đơn vị và được di truyền theo huyết thống. Hệ thống skill là yếu tố ảnh hưởng lớn đến tính chiến thuật và cục diện của trận đánh. Và khác với trước, trong Seisen nếu nhân vật không có skill "Hissatsu" (tất sát) thì sẽ không ra đòn đánh tất sát được. Đòn tất sát gây thương tích gấp 2 thay vì gấp 3 như các phiên bản trước. Ngoài ra đòn đánh tất sát còn phát động ngẫu nhiên khi các nhân vật có quan hệ huyết thống, luyến ái đứng cạnh nhau hoặc khi độ thành thạo vũ khí lên cao và khi sử dụng vũ khí đặc thù.
Quan hệ bao-búa-kéo
Lần đầu tiên trong series, quan hệ bao búa kéo xuất hiện ở Seisen và trở thành một trong những yếu tố chuẩn để các phiên bản sau noi theo. Quan hệ bao búa kéo tức là tính tương sinh, tương khắc giữa các loại vũ khí. Chẳng hạn, kiếm sẽ hữu lợi khi đối với rìu nhưng lại bất lợi khi đối với trường thương. Trường thương sẽ lợi khi đối với kiếm nhưng bất lợi đối với rìu. Các loại ma pháp cũng tuân theo quy tắc tương tự. Thuộc tính hỏa mạnh hơn thuộc tính phong nhưng lại bị thuộc tính lôi khắc chế, lôi khắc hỏa nhưng lại bị phong chế ngự. Đây là lần đầu tiên hệ thống tương sinh tương khắc được áp dụng nên nó vẫn còn nhiều sai sót. Đến phiên bản sau thì hệ thống này mới được cải thiện dần. Quan hệ tương sinh tương khắc của vũ khí, ma pháp chỉ ảnh hưởng đến phần trăm đánh trúng và né đòn của nhân vật mang chúng mà thôi.
Binh chủng
Về binh chủng (class) thì Seisen kế thừa các ưu điểm của các phiên bản trước. Về cơ bản thì vẫn giữ nguyên nhưng nó còn thêm vào một số yếu tố đặc trưng. Sau khi class change, nhân vật sẽ nhận được nhiều lợi điểm như gia tăng chỉ số sức mạnh, phạm vi di chuyển được mở rộng, khả năng sử dụng vũ khí được cải thiện,... Trong Seisen, ngoài class Dancer (con hát) thì toàn bộ nhân vật đều có thể class change được. Tuy nhiên, khác với trước, sau khi class change thì nhân vật không bị reset level mà vẫn giữ mức level như cũ. Giới hạn level là 30. Mỗi một class trong Seisen đều có khả năng sử dụng vũ khí cố định. Ngoài việc class change sang class khác và bị ảnh hưởng bởi dòng máu thánh thì không còn cách nào khác để nhân vật cải thiện được khả năng sử dụng vũ khí.
Hai thế hệ, hai câu chuyện
Điểm quan trọng nhất của Seisen chính là hai thế hệ cấu thành nên câu chuyện của nó. Hầu hết các nhân vật xuất hiện trong đời trước sẽ không xuất hiện ở đời sau (trừ nhân vật Fin) và người chơi sẽ điều khiển đội quân gồm con cái của họ ở nửa sau. Trong quá trình chơi, nếu hai nhân vật nam và nữ đứng cạnh nhau trong nhiều lượt thì độ luyến ái của họ tăng cao và cuối cùng trở thành tình nhân của nhau. Khi đã có quan hệ luyến ái thì nếu nếu hai nhân vật này đứng cạnh nhau, lực tấn công của họ được gia tăng thành đòn tất sát. Ngoài ra còn xuất hiện thêm command tặng tiền bạc cho người tình. Ở nửa sau của game sẽ xuất hiện các nhân vật con cái của các nhân vật nữ trong nữa trước. Thông số sức mạnh, skill của nhân vật đời con sẽ biến động phụ thuộc vào nhân vật cha. Do vậy, việc lựa chọn đối tượng để ghép cặp với các nhân vật nữ ở nửa trước là nhân tố quan trọng quyết định đời sau sẽ gặp thuận lợi hay khó khăn. Nhân vật cha còn truyền lại vũ khí, tiền và phần trăm gia tăng sức mạnh khi level up cho nhân vật con. Nếu nhân vật nữ ở đời trước không "kết hôn" (không yêu đương, hoặc chết giữa chừng) thì đời sau sẽ không xuất hiện con cái của họ. Thay vào đó là các nhân vật thay thế không rõ lai lịch. Những nhân vật này thường được gọi là "nhân vật bình dân" và chịu nhiều thiệt thòi hơn các nhân vật do nhân vật nữ đời trước sinh ra. Nhân vật thay thế có chỉ số sức mạnh yếu hơn, phần trăm gia tăng khi level up cũng kém hơn và thường là không có skill tốt. Nhưng Seisen cũng có các event hội thoại giúp nhân vật thay thế gia tăng sức mạnh. Ngoài ra, nếu hai nhân vật yêu nhau, khi trở về thành chính sẽ xuất hiện event hội thoại chào đón. Event này thay đổi tùy thuộc vào nhân vật nam hay nữ về thành trước.
Một điểm khác với những phiên bản trước là mỗi nhân vật sở hữu một "ngân khố" riêng thay vì dùng chung tiền như trước. Ngoài ra, nhân vật cũng không thể trực tiếp trao Item cho nhau được mà phải thông qua cửa hiệu trung gian trong thành chính. Nếu muốn nhân vật A trao món đồ B của mình cho nhân vật C thì A phải bán B cho cửa hiệu và C phải mua lại nó từ hiệu. Trong thành chính còn có cửa hiệu sửa chữa vũ khí hỏng (dùng tiền). Hệ thống này đòi hỏi người chơi phải khéo léo vận dụng mọi yếu tố để kiếm được tiền, mua sắm đồ trang bị. Ở phiên bản này, gậy Valkyrie hồi sinh người chết có thể được sửa chữa sau khi dùng nếu có đủ tiền. Vì vậy chỉ cần đảm bảo được hai yếu tố là người sử dụng (người thừa kế) và tiền bạc là có thể hồi sinh cho nhiều nhân vật. Các cửa hiệu cũng không nằm rải rác trong các màn như trước mà tập trung tại thành chính ở mỗi màn. Người chơi giao tiếp với các cửa hiệu này thông qua command trên màn hình. Ngoài ra, đấu trường trong Seisen cũng khác các bản game trước là nếu nhân vật bị đánh, mức HP còn 0 thì sẽ không "chết" mà được hồi phục HP còn 1 và bị đuổi ra khỏi đấu trường. Đối thủ xuất hiện trong đấu trường không ngẫu nhiên mà cố định theo một trình tự được sắp xếp sẵn. Mỗi nhân vật chỉ được chiến đấu với 7 đối thủ trong đấu trường ở mỗi màn. Sau khi chiến thắng hết số này thì nhân vật đó không còn tham gia đấu trường của màn đó được nữa. Nếu điều kiện thất bại của các bản trước là nhân vật chính bị tấn công với mức HP xuống 0 thì Seisen còn có thêm một điều kiện nữa. Đó là khi thành chính bị quân địch chiếm được. Do đó ở bản này, người chơi còn có command cho nhân vật trấn thủ thành.
Loạn số
Mọi hành động, tỉ lệ phần trăm trong Seisen được được chi phối bởi loạn số (dãy số ngẫu nhiên). Cùng một save data, dù cho có reset game nhiều lần nhưng thực hiện cùng một thao tác thì kết quả sẽ không bao giờ thay đổi. Ngược lại, cùng một save data nhưng chỉ cần reset game và thực hiện thao tác khác thì kết quả sẽ khác. Tính chất này được người chơi lợi dụng trong việc "luyện quân" và tránh tình huống bất lợi. Ở các game RPG khác thì người chơi thường reset game cho đến khi nào đạt kết quả mong muốn.
Thế giới quan
Bối cảnh của Seisen là đại lục Jugdrall được cấu thành bởi các quốc gia sau đây (thời điểm bắt đầu câu chuyện):
Vương quốc Granbell (グランベル王国)
Vương quốc hùng mạnh nhất đại lục, được hình thành bởi vương gia Barhara (con cháu của thánh giả Heim, sở hữu pháp thuật ánh sáng Narga), công quốc :Verthomer (con cháu của thánh chiến sĩ Fala), công quốc Edda (dòng dõi của :đại tư giáo Blagi), công quốc Freege (dòng dõi thánh chiến sĩ Tordo), công :quốc Chalphy (dòng dõi thánh kỵ sĩ Baldo), công quốc Dozul (dòng dõi thánh :chiến sĩ Neir) và công quốc Jungvy (dòng dõi thánh chiến sĩ Ulur).
Liên hợp vương quốc Agustria (アグストリア諸公連合)
Là đất nước của các kỵ sĩ ở phía Tây của đại lục Jugdrall. Minh chủ của khối :liên hợp này là vương gia Agusty, trực hệ của hắc kỵ sĩ Hezul. Tuy nhiên trong :số các con cái của Agusty thì ấn thánh Hezul xuất hiện ở cô con gái út, và cô :này về làm dâu nhà Nodion kể dưới đây. Từ đó trở đi, Agusty trao ma kiếm :Mistoltin cho vương quốc Nodion với điều kiện Nodion phải tận trung với Agusty.
Vương quốc Nodion (ノディオン王国)
Vương gia Nodion là một trong số các chư hầu hợp thành liên hợp vương quốc Agustria. Quốc vương là Eltoshan, hậu duệ của hắc kỵ sĩ Hezul, sử ma kiếm Mistoltin và thề tận trung với Agustria. Ngoài Nodion ra thì còn có các tiểu vương quốc khác hợp thành khối liên hợp Agustria như Anphony, Mackily, :Madino và Heirein.
Vương quốc Manster (レンスター王国)
Vương quốc phân chia bán đảo Thracia ở phía Đông Nam đại lục thành hai phần. Trong quá khứ, vùng đất này nằm dưới sự cai trị hà khắc của con cái của thánh chiến sĩ Dain. Sau đó, dòng dõi thánh chiến sĩ Nova đã lãnh đạo chư hầu đứng lên khởi nghĩa. Vương gia Lenster thừa kế địa thương của thánh chiến sĩ Nova.
Vương quốc Thracia (トラキア王国)
Vương quốc phía Nam bán đảo Thracia. Địa hình phần lớn là đồi núi hiểm trở, đất đai nghèo nàn nên không thể canh tác mà sống dựa vào việc đánh thuê. Vương gia Thracia thừa hưởng thiên thương của thánh chiến sĩ Dain.
Thracia còn là sản địa của loài phi long, sở hữu đội phi long kỵ sĩ hùng mạnh
nhất nhì đại lục.
Vương quốc Silesia (シレジア王国)
Vương quốc nằm ở phía Bắc đại lục, được phong ma chiến sĩ Sety trong số 12 thánh chiến sĩ xây dựng. Đất nước này được tuyết phủ quanh năm và là sản địa của loài thiên mã (Pegasus), quê hương của các phong ma đạo sĩ.
Vương gia Silesia thừa kế pháp thuật gió Pholsety.
Vương quốc Isaac (イザーク王国)
Đất nước của dân du mục nằm ở phía Đông Bắc đại lục Jugdrall. Vương gia Isaac thừa hưởng thần kiếm Balmunk từ thánh chiến sĩ Ordo. Đây còn là nơi
sản sinh ra lực lượng kiếm sĩ với tốc độ và kỹ năng bạt quần.
Vương quốc Verdane (ヴェルダン王国)
Đất nước được rừng rậm và ao hồ bao phủ, nằm ở phía Tây Nam đại lục. Quân đội của vương quốc này được cấu thành bởi lực lượng sơn tặc và các
bộ tộc man di. Đất nước này bị khinh miệt như là mọi rợ trong game.
Đế quốc Loputo (ロプト帝国)
Thời điểm bắt đầu game thì Đế quốc này không còn tồn tại.
Mấy trăm năm trước, đại tư giáo Gale vượt biển sang đại lục Akania (bối cảnh trong Monshō no Nazo), ký giao kết với Hắc ám thần Loputousu rồi dùng sức mạnh đó chinh phục đại lục Jugdrall, dựng nên Đế quốc Loputo. Sau Đế quốc này bị Hoàng thân Maira lãnh đạo chư hầu tiêu diệt. Tuy nhiên dòng máu của Hắc ám thần vẫn được di truyền trong các con cháu của Maira và đây là nguyên nhân chính dẫn đến bi kịch sau này.
Thần linh
Thập nhị thánh chiến sĩ
Đây là 12 chiến sĩ được thần linh giáng lâm trong cuộc thánh chiến chống Đế quốc Loputo lần trước. Sức mạnh của họ được di truyền cho đứa con trực hệ và trên cơ thể đứa con này sẽ xuất hiện dấu ấn thánh.
Thánh giả Heim
Lão nhân lãnh đạo đội quân giải phóng, sử dụng pháp thuật ánh sáng Narga.
Sau cuộc chiến, Heim gây dựng nên vương quốc Granbell.
Thánh kỵ sĩ Baldo
Nam kỵ sĩ sử dụng thánh kiếm Tyrfing. Sau trở thành chủ công quốc Chalphy.
Chiến sĩ ma thuật Fala
Nữ ma thuật sĩ sử dụng ma thuật lửa Fala Flame. Sau thành chủ công quốc Verthomer.
Kỵ sĩ ma thuật Tordo
Nam kỵ sĩ sử pháp thuật sấm sét Thor Hammer. Sau thành chủ công quốc Freege.
Đại tư tế Blagi
Nhân vật sử dụng gậy phép thuật hồi sinh Valkyrie. Sau thành chủ công quốc :Edda.
Cung chiến sĩ Ulur
Nữ chiến binh sử cung thần Ichiival. Sau thành chủ công quốc Jungvy.
Phủ chiến sĩ Neir
Chiến binh dụng búa thần Swanchika. Sau thành chủ công quốc Dozul.
Long kỵ sĩ Dain
Nam kỵ sĩ sử thiên thương Gungnir. Sau cuộc chiến, Dain gây dựng nên
vương quốc Thracia.
Thương kỵ sĩ Nova
Em gái của long kỵ sĩ Dain, dụng địa thương Geyborg.
Phong ma đạo sĩ Sety
Chiến sĩ ma pháp dụng pháp thuật gió Pholsety. Khai tổ của vương quốc Silesia sau này.
Thánh kiếm sĩ Ordo
Nam kiếm sĩ dụng thần kiếm Balmunk. Sau gây dựng nên đất nước Isaac.
Thập nhị ma tướng
Đây là nhóm chiến binh bí ẩn từ đời đại tư giáo Gale, được Yurius hồi sinh. Tên của 12 ma tướng này đều là tên Đức và còn xuất hiện trong Thracia 776 và Shin Ankoku Ryū. Theo tiểu thuyết FE thì đây là nhóm chiến binh trẻ hiếu chiến do Gale tập hợp được.
Cổ đại long tộc
Là long tộc từng xuất hiện ở phiên bản trước, sinh sống khắp đại lục Akania. Long tộc gồm có thần long, địa long, hỏa long... và xây dựng nên xã hội văn minh mà trí lực của loài người không sao bì kịp. Trong Seisen, long tộc ban cho loài người sức mạnh của mình thông qua các loại vũ khí và dòng máu của mình.
Loputousu
Vào thời kỳ cuối cùng của nền văn minh cực thịnh của Long tộc ở đại lục Akania, thần long vương Narga bắt đầu thuyết phục bộ tộc của mình rằng
thời đại của loài rồng đã suy thoái, chuẩn bị nhường chỗ cho loài người.
Tuy nhiên, trong số cổ đại long có các thành phần bám víu vào vinh quang cũ
và không tin lời Narga. Loputousu là một trong số đó. Trong lúc địa long tộc ra :sức mạt sát loài người thì đại tư giáo Gale ở đại lục Jugdrall tin vào truyền thuyết long tộc cổ đại, lặn lội tìm đến Akania, uống máu kết giao với Loputousu. Loputousu ban cho Galo hắc thánh thư chứa oán niệm của mình đối với nhân loại. Khi chạm vào, oán niệm được giải phóng và tinh thần của kẻ sở hữu sách thánh bị chi phối hoàn toàn, trở thành Loputousu thứ hai.
Nói cách khác, Loputousu đã thành công trong việc lợi dụng Gale để gieo rắc
tai họa cho loài người kể cả sau khi chết.
Narga
Vua của thần long tộc, loài mạnh nhất trong số cổ đại long tộc. Sau khi biết được vận mệnh không thể tránh khỏi của long tộc, Narga ra sức thuyết giảng
tộc của mình nhường chỗ cho một loại chúng sinh mới và từ đó xảy ra đối lập
với địa long tộc. Khi biết được Loputousu đã vươn tay ra khỏi đại lục Akania,
Narga dẫn theo 11 long tộc khác gồm Mistoltin, Pholsety, Salamander... đến
đại lục Jugdrall, ban cho 12 chiến sĩ quân giải phóng trong đồn Darna sức mạnh của mình. Sức mạnh của Narga được truyền thụ cho thánh giả Heim, người lãnh đạo đội quân giải phóng. Và đúng như Narga lo sợ, giao kết máu
giữa long tộc với con người đã gây nhiều xáo trộn trong xã hội loài người sau này.
Các vị thần khác
Đó là đối tượng được tôn bái ở đại lục Jugdrall, gồm các vị thần được tín ngưỡng từ trước khi 12 thánh chiến sĩ xuất hiện. Những người sinh thời được gọi là anh hùng thì sau khi chết cũng được thần cách hóa vào hàng ngũ những vị thần mới.
Yurdo (Gran)
Thiên không thần, vị thần tối cao trong số các thần linh dựng nước. Tên của vị thần này bắt nguồn từ tên quốc gia đầu tiên của đại lục Jugdrall.
Thập nhị sứ đồ
Các vị thần mới nhất trong số các thần linh. Thập nhị sứ đồ còn được gọi là
thần bảo hộ và võ thần. Các anh hùng trong cuộc chiến lần trước được thần
cách hóa và gia nhập hàng ngũ này. Thánh chiến sĩ Blagi trong số thập nhị thánh chiến sĩ được gọi là thần cai quản sinh mệnh và vận mệnh, được tính vào trong số này. Tuy nhiên, game không nói rõ là thập nhị sứ đồ có đồng
nhất với thập nhị thần tướng hay không.
Vũ khí truyền thuyết
Là 12 món vũ khí thần được long tộc ban cho 12 chiến sĩ quân giải phóng.
Năm 632, lịch Gran, quân giải phóng bị Đế quốc Gran dồn vào đồn Darna.
Lúc đó, thần linh (long tộc) giáng lâm vào 12 chiến sĩ trong đồn, ký huyết
giao với họ và ban cho 12 món vũ khí. Những món vũ khí này chứa sức mạnh
của thần linh (long tộc) và còn làm gia tăng năng lực của người sở hữu. Những người sử dụng vũ khí này được gọi là thập nhị thánh chiến sĩ và cống
hiến không ít vào việc lật đổ Đế quốc Loputo. Sau cuộc chiến, 12 thánh chiến sĩ tản mác khắp nơi và truyền lại dòng máu cùng những món vũ khí này cho con cháu. Cùng là con cháu của thánh chiến sĩ nhưng chỉ có người nào mang dấu ấn thánh chứng tỏ là trực hệ của thánh chiến sĩ mới dùng được món vũ khí thần. Và do chủng loại của 12 món vũ khí này khác nhau nên dẫn tới một điều khó khăn của Seisen nếu người chơi không sắp xếp hợp lý. Đó là việc thế hệ sau tuy nhận được vũ khí thần, là trực hệ để sử dụng nó nhưng lại không ở class có thể trang bị được vũ khí đó. Và vũ khí thần cũng không thể bán đi được nên trong trường hợp này, nhân vật đành phải mang theo như một gánh nặng hoặc gửi vào kho cá nhân mà không bao giờ sử dụng được. Vũ khí thần cũng được sửa chữa như vũ khí thông thường nhưng giá tiền cao hơn nhiều lần. Khi sử dụng vũ khí thần thì luôn có cảnh ánh sáng chớp hoặc rồng xuất hiện. Loputousu là món vũ khí thần thứ 13, được xem là hiện thân của Hắc ám thần Loputousu và có công năng giảm một nữa lực công kích của đối phương. Narga là vũ khí thần duy nhất vô hiệu hóa được sức mạnh của Loputousu.
Ngoài lề
+Trong số các binh chủng của Seisen có Duke và Duke Knight, tương đương với công tước vị thời trung cổ ở Châu Âu.
+Trong một đấu trường trong Seisen, có nhân vật tên Mario, trùng tên với nhân vật chính trong series game Mario của Nintendō. Ngoài ra còn có nhân vật tên Lip xuất hiện ở chương 4, trùng tên với nhân vật trong Panel de Pon của Intelligent Systems.
+Khúc nhạc chờ trong đấu trường của Seisen là phiên bản arrange của một khúc nhạc trong Monshō no Nazo.
+Về nội dung, người ta cho rằng Seisen có câu chuyện mang cốt cách của tiểu thuyết lịch sử Homura Tatsu (炎立つ) của nhà văn Nhật Bản Takahashi Katsuhiko. Tiểu thuyết này có bối cảnh là nước Nhật thời Heian và xoay quanh mối xung đột giữa Triều đình và xứ Ezo phương Bắc.
+Seisen còn có các đoạn Opening ẩn và thay đổi theo số lần clear game của người chơi. Số lần clear game càng nhiều thì càng xem được nhiều đoạn Opening ẩn.
+Khúc nhạc BGM "Hikari to Yami to" (ánh sáng và bóng tối) ở chương 10 của Seisen còn được biên soạn lại và sử dụng trong map chơi thử của phiên bản Fire Emblem Sōen no Kiseki sau khi đã clear game.
Thương phẩm liên quan
Sách hướng dẫn
* Fire Emblem Seisen no Keifu TREASURE
Phát hành ngày 27 tháng 1 năm 1999. ISBN 4757180144. Đây là sách hướng
dẫn chính thức của Intelligent Systems.
Manga
Tác giả Ōsawa Mitsuki.
* Fire Emblem Seisen no Keifu (Media Factory), gồm 16 tập.
Tác giả Fujimori Nattsu
* Fire Emblem Seisen no Keifu (Enix), gồm 6 tập.
Tác giả Fuyuki Nea
* Fire Emblem Hikari wo tsugu mono (Enix), gồm 5 tập.
Tác giả Arisaka Sumi
* Fire Emblem Hikari wo tsugu mono tachi (Kōdansha), 1 tập.
Tiểu thuyết, Game Book
Tác giả Suzuki Gin Ichirō
* Fire Emblem Seisen no Keifu.
* Fire Emblem Seisen no Keifu Shigurudo hen.
* Fire Emblem Seisen no Keifu Saigo no Chiryūzoku.
* Fire Emblem Seisen no Keifu Mori to Mizuumi no Kuni.
Tác giả Takeda Yūichirō
* Tiểu thuyết Fire Emblem Seisen no Keifu (Enix).
Game Book
* Fire Emblem Seisen no Keifu (Enix).
CD
* Fire Emblem Seisen no Keifu Game Music Soundtrack (Tokuma Japan Comunications)
* Fire Emblem Seisen no Keifu Original Soundtrack version (NTT/POLYSTAR).
* FIRE EMBLEM THE BEST 2 (POLYSTAR)
Nhạc phổ
* Fire Emblem Seisen no Keifu Tanoshii Baieru heiyō.
Sáng tác: Yokotsuji Yuka
Arrange: Tampa Asako
Thương phẩm
* Fire Emblem TGC (Trading Card Game)
* Fire Emblem~Seisen no Keifu~EXCEED A GENERATION Vol.1: Bộ hình nhân đồ chơi phát hành ngày 14 tháng 11 năm 2006.
Dưới đây là vài hình ảnh về bộ hình nhân



Menu của Fire Emblem Seisen no Keifu
Khái yếu
Seisen no Keifu (từ nay sẽ gọi tắt là Seisen) là tác phẩm thứ 4 trong series Fire Emblem (từ nay sẽ gọi tắt là FE) với thế giới quan hoàn toàn khác hẳn so với các phiên bản trước. Bối cảnh của game là đại lục Jugdrall, nơi diễn ra cuộc chiến tranh được gọi là "thánh chiến" và truyền thuyết về các thánh chiến sĩ mang lại hòa bình và hậu thân của họ. Giống với phiên bản trước là Monshō no Nazo, Seisen cũng được cấu thành gồm hai phần nhưng Seisen đi sâu vào quan hệ giữa các quốc gia trong đại lục. Nó nhấn mạnh vào các cuộc chiến giữa các nước, đề cập tới khía cạnh một mặt thì mong muốn hòa bình cho đất nước mình nhưng mặt khác lại tiến hành xâm lược tha quốc. Một đặc trưng của Seisen là nó xoáy sâu vào các bi kịch được triển khai từ chiến tranh. Theo nhà phát triển thì ý đồ của họ là "muốn truyền đạt những nỗi đau của chiến tranh" đến người chơi thông qua câu chuyện của Seisen.
Một đặc điểm nữa là Fire Emblem, vật tượng trưng đã trở thành thương hiệu của series game này đã không còn giữ vị trí quan trọng như trong các phiên bản trước nữa. Nếu trước đây "dấu ấn lửa" luôn giữ vai trò chìa khóa quan trọng để giải quyết vấn đề thì trong Seisen, nó chỉ là gia huy của một nhà công tước mà thôi. Vì vậy nó không liên hệ mật thiết đến cốt truyện mà chỉ xuất hiện khá mờ nhạt.
Về mặt gameplay thì Seisen có nhiều đổi mới đáng kể để các phiên bản sau kế thừa, chẳng hạn như hệ thống skill (kỹ năng), yếu tố "bao-búa-kéo" giữa các loại vũ khí, khả năng tiếp tục di chuyển của kỵ binh sau khi hành động. Mặt khác Seisen còn có nhiều yếu tố độc đáo của riêng nó như bản đồ rộng, hệ thống luyến ái giữa các nhân vật, cách tính tần số, độ thành thạo vũ khí,...
Theo tiến triển của câu chuyện, trong quá trình chơi, giữa các nhân vật sẽ nảy sinh tình cảm luyến ái và đưa đến hôn nhân để cho ra đời thế hệ sau. Tùy vào cách "ghép cặp" của người chơi mà các nhân vật ở thế hệ sau sẽ thay đổi khác nhau. Đây là một điều làm nên sức hấp dẫn độc đáo của Seisen, đến nỗi đã hơn 10 năm kể từ ngày phát hành, nó vẫn được rất nhiều người chơi hâm mộ và chơi đi chơi lại cho đến tận ngày nay, bởi lẽ mỗi lần chơi là mỗi lần trải nghiệm khác nhau. Tên các nhân vật chủ yếu và các Item truyền thuyết trong game đều bắt nguồn từ thần thoại Bắc Âu, bên cạnh đó các địa danh trong game cũng ít nhiều liên quan đến địa danh, thần thoại các nước trong thực tế.
Thiết kế chính (Game designer): Kaga Shōzō Super Adviser: Terasaki Keisuke Chief Conductor: Narita Tsū Âm nhạc: Yokotsuji Yuka
Nội dung
Năm 440 lịch Gran, Hắc ám thần Loputousu giáng lâm vào đại tư giáo Gale. Ông ta thành lập nên giáo đoàn hắc ám Loputo tôn sùng Hắc ám thần Loputousu. Năm 447, xảy ra loạn thập nhị ma tướng, nước cộng hòa Gran diệt vong và Đế quốc Loputo được thành lập. Đế quốc Loputo săn lùng trẻ con, sát hại dân lành, gieo rắc sự hoảng sợ khắp nơi. Trong bối cảnh đó, vào năm 553, người em trai của Hoàng đế Loputo là Hoàng thân Maira đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa, kêu gọi lật đổ Loputo ở khắp nơi. Cuộc phản loạn bành trướng với quy mô lớn nhưng rồi đội quân giải phóng bị dồn đến chân tuyệt vọng, cuối cùng co cụm trong đồn Darna. Lúc đó "thần linh" giáng lâm vào 12 chiến sĩ quân giải phóng trong đồn, và thế là 12 thánh chiến sĩ huyền thoại đản sinh vào năm 632, lịch Gran.
Cảnh mở đầu của Fire Emblem Seisen no Keifu
Được 12 thánh chiến sĩ giúp sức, đội quân giải phóng bắt đầu cuộc thánh chiến lật đổ Đế quốc Loputo vào năm sau. Năm 648, 15 năm sau đó, họ đã tiêu diệt được Đế quốc Loputo. Thập nhị thánh chiến sĩ anh hùng tản mác đi khắp nơi, họ gây dựng nên bảy công quốc hợp thành đại vương quốc Granbell và năm vương quốc lân bang. Sau đó khoảng trăm năm, vào năm 757, xảy ra việc vương quốc Isaac ở phương Đông nổi loạn. Trong khi vương quốc Granbell gửi binh đi trấn áp Isaac thì bất ngờ nước láng giềng Verdane đột phá đường biên giới, bắt công nương Edin thuộc công quốc Junvy. Công tử Sigurd được cha là Bairon giao cho trấn thủ thành Chalphy khi viễn chinh phạt Isaac. Đứng trước nguy cơ đất nước bị Verdane tấn công, Sigurd đã quyết định xuất binh. Và lúc này, không một ai biết trước rằng trận đánh này sẽ mở màn cho những bi kịch xảy ra sau đó...
Gameplay
Bản đồ chiến đấu rộng lớn
Toàn bộ game được chia thành 12 màn, con số quá ít so với các phiên bản trước. Tuy nhiên, mỗi một màn của Seisen lại rất rộng lớn và được chia thành nhiều "phân cảnh" nhỏ. Khác với các phiên bản khác, Seisen không có màn nào chiến đấu trong thành và toàn bộ đơn vị đều được phép xuất kích trong map thay vì bị hạn chế số lượng như ở phiên bản khác. Giống như các phiên bản khác, điều kiện thắng lợi trong Seisen là chiếm được cứ điểm của quân địch. Nhưng không dễ dàng như vậy. Đầu tiên, người chơi chỉ có thể di chuyển trong một phần nhỏ của toàn bản đồ. Sau khi chiếm được thành của quân địch trong phần lãnh địa đó thì sẽ có các event làm xuất hiện thêm đường đi mới, quân địch mới và phạm vi hành động của người chơi cũng được mở rộng. Game cho phép người chơi save ở đầu mỗi Turn trong từng màn.
Hệ thống skill
Ngoài các thông số như sức mạnh, tốc độ ra thì các nhân vật trong Seisen còn có hệ thống skill ảnh hưởng tới năng lực của họ. Skill được phân làm hai loại là skill binh chủng và skill cá nhân. Skill binh chủng là đặc thù của từng loại class và bất cứ nhân vật nào ở class đó cũng đều có được skill tương ứng. Skill cá nhân là riêng biệt của từng đơn vị và được di truyền theo huyết thống. Hệ thống skill là yếu tố ảnh hưởng lớn đến tính chiến thuật và cục diện của trận đánh. Và khác với trước, trong Seisen nếu nhân vật không có skill "Hissatsu" (tất sát) thì sẽ không ra đòn đánh tất sát được. Đòn tất sát gây thương tích gấp 2 thay vì gấp 3 như các phiên bản trước. Ngoài ra đòn đánh tất sát còn phát động ngẫu nhiên khi các nhân vật có quan hệ huyết thống, luyến ái đứng cạnh nhau hoặc khi độ thành thạo vũ khí lên cao và khi sử dụng vũ khí đặc thù.
Quan hệ bao-búa-kéo
Lần đầu tiên trong series, quan hệ bao búa kéo xuất hiện ở Seisen và trở thành một trong những yếu tố chuẩn để các phiên bản sau noi theo. Quan hệ bao búa kéo tức là tính tương sinh, tương khắc giữa các loại vũ khí. Chẳng hạn, kiếm sẽ hữu lợi khi đối với rìu nhưng lại bất lợi khi đối với trường thương. Trường thương sẽ lợi khi đối với kiếm nhưng bất lợi đối với rìu. Các loại ma pháp cũng tuân theo quy tắc tương tự. Thuộc tính hỏa mạnh hơn thuộc tính phong nhưng lại bị thuộc tính lôi khắc chế, lôi khắc hỏa nhưng lại bị phong chế ngự. Đây là lần đầu tiên hệ thống tương sinh tương khắc được áp dụng nên nó vẫn còn nhiều sai sót. Đến phiên bản sau thì hệ thống này mới được cải thiện dần. Quan hệ tương sinh tương khắc của vũ khí, ma pháp chỉ ảnh hưởng đến phần trăm đánh trúng và né đòn của nhân vật mang chúng mà thôi.
Binh chủng
Về binh chủng (class) thì Seisen kế thừa các ưu điểm của các phiên bản trước. Về cơ bản thì vẫn giữ nguyên nhưng nó còn thêm vào một số yếu tố đặc trưng. Sau khi class change, nhân vật sẽ nhận được nhiều lợi điểm như gia tăng chỉ số sức mạnh, phạm vi di chuyển được mở rộng, khả năng sử dụng vũ khí được cải thiện,... Trong Seisen, ngoài class Dancer (con hát) thì toàn bộ nhân vật đều có thể class change được. Tuy nhiên, khác với trước, sau khi class change thì nhân vật không bị reset level mà vẫn giữ mức level như cũ. Giới hạn level là 30. Mỗi một class trong Seisen đều có khả năng sử dụng vũ khí cố định. Ngoài việc class change sang class khác và bị ảnh hưởng bởi dòng máu thánh thì không còn cách nào khác để nhân vật cải thiện được khả năng sử dụng vũ khí.
Hai thế hệ, hai câu chuyện
Điểm quan trọng nhất của Seisen chính là hai thế hệ cấu thành nên câu chuyện của nó. Hầu hết các nhân vật xuất hiện trong đời trước sẽ không xuất hiện ở đời sau (trừ nhân vật Fin) và người chơi sẽ điều khiển đội quân gồm con cái của họ ở nửa sau. Trong quá trình chơi, nếu hai nhân vật nam và nữ đứng cạnh nhau trong nhiều lượt thì độ luyến ái của họ tăng cao và cuối cùng trở thành tình nhân của nhau. Khi đã có quan hệ luyến ái thì nếu nếu hai nhân vật này đứng cạnh nhau, lực tấn công của họ được gia tăng thành đòn tất sát. Ngoài ra còn xuất hiện thêm command tặng tiền bạc cho người tình. Ở nửa sau của game sẽ xuất hiện các nhân vật con cái của các nhân vật nữ trong nữa trước. Thông số sức mạnh, skill của nhân vật đời con sẽ biến động phụ thuộc vào nhân vật cha. Do vậy, việc lựa chọn đối tượng để ghép cặp với các nhân vật nữ ở nửa trước là nhân tố quan trọng quyết định đời sau sẽ gặp thuận lợi hay khó khăn. Nhân vật cha còn truyền lại vũ khí, tiền và phần trăm gia tăng sức mạnh khi level up cho nhân vật con. Nếu nhân vật nữ ở đời trước không "kết hôn" (không yêu đương, hoặc chết giữa chừng) thì đời sau sẽ không xuất hiện con cái của họ. Thay vào đó là các nhân vật thay thế không rõ lai lịch. Những nhân vật này thường được gọi là "nhân vật bình dân" và chịu nhiều thiệt thòi hơn các nhân vật do nhân vật nữ đời trước sinh ra. Nhân vật thay thế có chỉ số sức mạnh yếu hơn, phần trăm gia tăng khi level up cũng kém hơn và thường là không có skill tốt. Nhưng Seisen cũng có các event hội thoại giúp nhân vật thay thế gia tăng sức mạnh. Ngoài ra, nếu hai nhân vật yêu nhau, khi trở về thành chính sẽ xuất hiện event hội thoại chào đón. Event này thay đổi tùy thuộc vào nhân vật nam hay nữ về thành trước.
Một điểm khác với những phiên bản trước là mỗi nhân vật sở hữu một "ngân khố" riêng thay vì dùng chung tiền như trước. Ngoài ra, nhân vật cũng không thể trực tiếp trao Item cho nhau được mà phải thông qua cửa hiệu trung gian trong thành chính. Nếu muốn nhân vật A trao món đồ B của mình cho nhân vật C thì A phải bán B cho cửa hiệu và C phải mua lại nó từ hiệu. Trong thành chính còn có cửa hiệu sửa chữa vũ khí hỏng (dùng tiền). Hệ thống này đòi hỏi người chơi phải khéo léo vận dụng mọi yếu tố để kiếm được tiền, mua sắm đồ trang bị. Ở phiên bản này, gậy Valkyrie hồi sinh người chết có thể được sửa chữa sau khi dùng nếu có đủ tiền. Vì vậy chỉ cần đảm bảo được hai yếu tố là người sử dụng (người thừa kế) và tiền bạc là có thể hồi sinh cho nhiều nhân vật. Các cửa hiệu cũng không nằm rải rác trong các màn như trước mà tập trung tại thành chính ở mỗi màn. Người chơi giao tiếp với các cửa hiệu này thông qua command trên màn hình. Ngoài ra, đấu trường trong Seisen cũng khác các bản game trước là nếu nhân vật bị đánh, mức HP còn 0 thì sẽ không "chết" mà được hồi phục HP còn 1 và bị đuổi ra khỏi đấu trường. Đối thủ xuất hiện trong đấu trường không ngẫu nhiên mà cố định theo một trình tự được sắp xếp sẵn. Mỗi nhân vật chỉ được chiến đấu với 7 đối thủ trong đấu trường ở mỗi màn. Sau khi chiến thắng hết số này thì nhân vật đó không còn tham gia đấu trường của màn đó được nữa. Nếu điều kiện thất bại của các bản trước là nhân vật chính bị tấn công với mức HP xuống 0 thì Seisen còn có thêm một điều kiện nữa. Đó là khi thành chính bị quân địch chiếm được. Do đó ở bản này, người chơi còn có command cho nhân vật trấn thủ thành.
Loạn số
Mọi hành động, tỉ lệ phần trăm trong Seisen được được chi phối bởi loạn số (dãy số ngẫu nhiên). Cùng một save data, dù cho có reset game nhiều lần nhưng thực hiện cùng một thao tác thì kết quả sẽ không bao giờ thay đổi. Ngược lại, cùng một save data nhưng chỉ cần reset game và thực hiện thao tác khác thì kết quả sẽ khác. Tính chất này được người chơi lợi dụng trong việc "luyện quân" và tránh tình huống bất lợi. Ở các game RPG khác thì người chơi thường reset game cho đến khi nào đạt kết quả mong muốn.
Thế giới quan
Bối cảnh của Seisen là đại lục Jugdrall được cấu thành bởi các quốc gia sau đây (thời điểm bắt đầu câu chuyện):
Vương quốc Granbell (グランベル王国)
Vương quốc hùng mạnh nhất đại lục, được hình thành bởi vương gia Barhara (con cháu của thánh giả Heim, sở hữu pháp thuật ánh sáng Narga), công quốc :Verthomer (con cháu của thánh chiến sĩ Fala), công quốc Edda (dòng dõi của :đại tư giáo Blagi), công quốc Freege (dòng dõi thánh chiến sĩ Tordo), công :quốc Chalphy (dòng dõi thánh kỵ sĩ Baldo), công quốc Dozul (dòng dõi thánh :chiến sĩ Neir) và công quốc Jungvy (dòng dõi thánh chiến sĩ Ulur).
Liên hợp vương quốc Agustria (アグストリア諸公連合)
Là đất nước của các kỵ sĩ ở phía Tây của đại lục Jugdrall. Minh chủ của khối :liên hợp này là vương gia Agusty, trực hệ của hắc kỵ sĩ Hezul. Tuy nhiên trong :số các con cái của Agusty thì ấn thánh Hezul xuất hiện ở cô con gái út, và cô :này về làm dâu nhà Nodion kể dưới đây. Từ đó trở đi, Agusty trao ma kiếm :Mistoltin cho vương quốc Nodion với điều kiện Nodion phải tận trung với Agusty.
Vương quốc Nodion (ノディオン王国)
Vương gia Nodion là một trong số các chư hầu hợp thành liên hợp vương quốc Agustria. Quốc vương là Eltoshan, hậu duệ của hắc kỵ sĩ Hezul, sử ma kiếm Mistoltin và thề tận trung với Agustria. Ngoài Nodion ra thì còn có các tiểu vương quốc khác hợp thành khối liên hợp Agustria như Anphony, Mackily, :Madino và Heirein.
Vương quốc Manster (レンスター王国)
Vương quốc phân chia bán đảo Thracia ở phía Đông Nam đại lục thành hai phần. Trong quá khứ, vùng đất này nằm dưới sự cai trị hà khắc của con cái của thánh chiến sĩ Dain. Sau đó, dòng dõi thánh chiến sĩ Nova đã lãnh đạo chư hầu đứng lên khởi nghĩa. Vương gia Lenster thừa kế địa thương của thánh chiến sĩ Nova.
Vương quốc Thracia (トラキア王国)
Vương quốc phía Nam bán đảo Thracia. Địa hình phần lớn là đồi núi hiểm trở, đất đai nghèo nàn nên không thể canh tác mà sống dựa vào việc đánh thuê. Vương gia Thracia thừa hưởng thiên thương của thánh chiến sĩ Dain.
Thracia còn là sản địa của loài phi long, sở hữu đội phi long kỵ sĩ hùng mạnh
nhất nhì đại lục.
Vương quốc Silesia (シレジア王国)
Vương quốc nằm ở phía Bắc đại lục, được phong ma chiến sĩ Sety trong số 12 thánh chiến sĩ xây dựng. Đất nước này được tuyết phủ quanh năm và là sản địa của loài thiên mã (Pegasus), quê hương của các phong ma đạo sĩ.
Vương gia Silesia thừa kế pháp thuật gió Pholsety.
Vương quốc Isaac (イザーク王国)
Đất nước của dân du mục nằm ở phía Đông Bắc đại lục Jugdrall. Vương gia Isaac thừa hưởng thần kiếm Balmunk từ thánh chiến sĩ Ordo. Đây còn là nơi
sản sinh ra lực lượng kiếm sĩ với tốc độ và kỹ năng bạt quần.
Vương quốc Verdane (ヴェルダン王国)
Đất nước được rừng rậm và ao hồ bao phủ, nằm ở phía Tây Nam đại lục. Quân đội của vương quốc này được cấu thành bởi lực lượng sơn tặc và các
bộ tộc man di. Đất nước này bị khinh miệt như là mọi rợ trong game.
Đế quốc Loputo (ロプト帝国)
Thời điểm bắt đầu game thì Đế quốc này không còn tồn tại.
Mấy trăm năm trước, đại tư giáo Gale vượt biển sang đại lục Akania (bối cảnh trong Monshō no Nazo), ký giao kết với Hắc ám thần Loputousu rồi dùng sức mạnh đó chinh phục đại lục Jugdrall, dựng nên Đế quốc Loputo. Sau Đế quốc này bị Hoàng thân Maira lãnh đạo chư hầu tiêu diệt. Tuy nhiên dòng máu của Hắc ám thần vẫn được di truyền trong các con cháu của Maira và đây là nguyên nhân chính dẫn đến bi kịch sau này.
Thần linh
Thập nhị thánh chiến sĩ
Đây là 12 chiến sĩ được thần linh giáng lâm trong cuộc thánh chiến chống Đế quốc Loputo lần trước. Sức mạnh của họ được di truyền cho đứa con trực hệ và trên cơ thể đứa con này sẽ xuất hiện dấu ấn thánh.
Thánh giả Heim
Lão nhân lãnh đạo đội quân giải phóng, sử dụng pháp thuật ánh sáng Narga.
Sau cuộc chiến, Heim gây dựng nên vương quốc Granbell.
Thánh kỵ sĩ Baldo
Nam kỵ sĩ sử dụng thánh kiếm Tyrfing. Sau trở thành chủ công quốc Chalphy.
Chiến sĩ ma thuật Fala
Nữ ma thuật sĩ sử dụng ma thuật lửa Fala Flame. Sau thành chủ công quốc Verthomer.
Kỵ sĩ ma thuật Tordo
Nam kỵ sĩ sử pháp thuật sấm sét Thor Hammer. Sau thành chủ công quốc Freege.
Đại tư tế Blagi
Nhân vật sử dụng gậy phép thuật hồi sinh Valkyrie. Sau thành chủ công quốc :Edda.
Cung chiến sĩ Ulur
Nữ chiến binh sử cung thần Ichiival. Sau thành chủ công quốc Jungvy.
Phủ chiến sĩ Neir
Chiến binh dụng búa thần Swanchika. Sau thành chủ công quốc Dozul.
Long kỵ sĩ Dain
Nam kỵ sĩ sử thiên thương Gungnir. Sau cuộc chiến, Dain gây dựng nên
vương quốc Thracia.
Thương kỵ sĩ Nova
Em gái của long kỵ sĩ Dain, dụng địa thương Geyborg.
Phong ma đạo sĩ Sety
Chiến sĩ ma pháp dụng pháp thuật gió Pholsety. Khai tổ của vương quốc Silesia sau này.
Thánh kiếm sĩ Ordo
Nam kiếm sĩ dụng thần kiếm Balmunk. Sau gây dựng nên đất nước Isaac.
Thập nhị ma tướng
Đây là nhóm chiến binh bí ẩn từ đời đại tư giáo Gale, được Yurius hồi sinh. Tên của 12 ma tướng này đều là tên Đức và còn xuất hiện trong Thracia 776 và Shin Ankoku Ryū. Theo tiểu thuyết FE thì đây là nhóm chiến binh trẻ hiếu chiến do Gale tập hợp được.
Cổ đại long tộc
Là long tộc từng xuất hiện ở phiên bản trước, sinh sống khắp đại lục Akania. Long tộc gồm có thần long, địa long, hỏa long... và xây dựng nên xã hội văn minh mà trí lực của loài người không sao bì kịp. Trong Seisen, long tộc ban cho loài người sức mạnh của mình thông qua các loại vũ khí và dòng máu của mình.
Loputousu
Vào thời kỳ cuối cùng của nền văn minh cực thịnh của Long tộc ở đại lục Akania, thần long vương Narga bắt đầu thuyết phục bộ tộc của mình rằng
thời đại của loài rồng đã suy thoái, chuẩn bị nhường chỗ cho loài người.
Tuy nhiên, trong số cổ đại long có các thành phần bám víu vào vinh quang cũ
và không tin lời Narga. Loputousu là một trong số đó. Trong lúc địa long tộc ra :sức mạt sát loài người thì đại tư giáo Gale ở đại lục Jugdrall tin vào truyền thuyết long tộc cổ đại, lặn lội tìm đến Akania, uống máu kết giao với Loputousu. Loputousu ban cho Galo hắc thánh thư chứa oán niệm của mình đối với nhân loại. Khi chạm vào, oán niệm được giải phóng và tinh thần của kẻ sở hữu sách thánh bị chi phối hoàn toàn, trở thành Loputousu thứ hai.
Nói cách khác, Loputousu đã thành công trong việc lợi dụng Gale để gieo rắc
tai họa cho loài người kể cả sau khi chết.
Narga
Vua của thần long tộc, loài mạnh nhất trong số cổ đại long tộc. Sau khi biết được vận mệnh không thể tránh khỏi của long tộc, Narga ra sức thuyết giảng
tộc của mình nhường chỗ cho một loại chúng sinh mới và từ đó xảy ra đối lập
với địa long tộc. Khi biết được Loputousu đã vươn tay ra khỏi đại lục Akania,
Narga dẫn theo 11 long tộc khác gồm Mistoltin, Pholsety, Salamander... đến
đại lục Jugdrall, ban cho 12 chiến sĩ quân giải phóng trong đồn Darna sức mạnh của mình. Sức mạnh của Narga được truyền thụ cho thánh giả Heim, người lãnh đạo đội quân giải phóng. Và đúng như Narga lo sợ, giao kết máu
giữa long tộc với con người đã gây nhiều xáo trộn trong xã hội loài người sau này.
Các vị thần khác
Đó là đối tượng được tôn bái ở đại lục Jugdrall, gồm các vị thần được tín ngưỡng từ trước khi 12 thánh chiến sĩ xuất hiện. Những người sinh thời được gọi là anh hùng thì sau khi chết cũng được thần cách hóa vào hàng ngũ những vị thần mới.
Yurdo (Gran)
Thiên không thần, vị thần tối cao trong số các thần linh dựng nước. Tên của vị thần này bắt nguồn từ tên quốc gia đầu tiên của đại lục Jugdrall.
Thập nhị sứ đồ
Các vị thần mới nhất trong số các thần linh. Thập nhị sứ đồ còn được gọi là
thần bảo hộ và võ thần. Các anh hùng trong cuộc chiến lần trước được thần
cách hóa và gia nhập hàng ngũ này. Thánh chiến sĩ Blagi trong số thập nhị thánh chiến sĩ được gọi là thần cai quản sinh mệnh và vận mệnh, được tính vào trong số này. Tuy nhiên, game không nói rõ là thập nhị sứ đồ có đồng
nhất với thập nhị thần tướng hay không.
Vũ khí truyền thuyết
Là 12 món vũ khí thần được long tộc ban cho 12 chiến sĩ quân giải phóng.
Năm 632, lịch Gran, quân giải phóng bị Đế quốc Gran dồn vào đồn Darna.
Lúc đó, thần linh (long tộc) giáng lâm vào 12 chiến sĩ trong đồn, ký huyết
giao với họ và ban cho 12 món vũ khí. Những món vũ khí này chứa sức mạnh
của thần linh (long tộc) và còn làm gia tăng năng lực của người sở hữu. Những người sử dụng vũ khí này được gọi là thập nhị thánh chiến sĩ và cống
hiến không ít vào việc lật đổ Đế quốc Loputo. Sau cuộc chiến, 12 thánh chiến sĩ tản mác khắp nơi và truyền lại dòng máu cùng những món vũ khí này cho con cháu. Cùng là con cháu của thánh chiến sĩ nhưng chỉ có người nào mang dấu ấn thánh chứng tỏ là trực hệ của thánh chiến sĩ mới dùng được món vũ khí thần. Và do chủng loại của 12 món vũ khí này khác nhau nên dẫn tới một điều khó khăn của Seisen nếu người chơi không sắp xếp hợp lý. Đó là việc thế hệ sau tuy nhận được vũ khí thần, là trực hệ để sử dụng nó nhưng lại không ở class có thể trang bị được vũ khí đó. Và vũ khí thần cũng không thể bán đi được nên trong trường hợp này, nhân vật đành phải mang theo như một gánh nặng hoặc gửi vào kho cá nhân mà không bao giờ sử dụng được. Vũ khí thần cũng được sửa chữa như vũ khí thông thường nhưng giá tiền cao hơn nhiều lần. Khi sử dụng vũ khí thần thì luôn có cảnh ánh sáng chớp hoặc rồng xuất hiện. Loputousu là món vũ khí thần thứ 13, được xem là hiện thân của Hắc ám thần Loputousu và có công năng giảm một nữa lực công kích của đối phương. Narga là vũ khí thần duy nhất vô hiệu hóa được sức mạnh của Loputousu.
Ngoài lề
+Trong số các binh chủng của Seisen có Duke và Duke Knight, tương đương với công tước vị thời trung cổ ở Châu Âu.
+Trong một đấu trường trong Seisen, có nhân vật tên Mario, trùng tên với nhân vật chính trong series game Mario của Nintendō. Ngoài ra còn có nhân vật tên Lip xuất hiện ở chương 4, trùng tên với nhân vật trong Panel de Pon của Intelligent Systems.
+Khúc nhạc chờ trong đấu trường của Seisen là phiên bản arrange của một khúc nhạc trong Monshō no Nazo.
+Về nội dung, người ta cho rằng Seisen có câu chuyện mang cốt cách của tiểu thuyết lịch sử Homura Tatsu (炎立つ) của nhà văn Nhật Bản Takahashi Katsuhiko. Tiểu thuyết này có bối cảnh là nước Nhật thời Heian và xoay quanh mối xung đột giữa Triều đình và xứ Ezo phương Bắc.
+Seisen còn có các đoạn Opening ẩn và thay đổi theo số lần clear game của người chơi. Số lần clear game càng nhiều thì càng xem được nhiều đoạn Opening ẩn.
+Khúc nhạc BGM "Hikari to Yami to" (ánh sáng và bóng tối) ở chương 10 của Seisen còn được biên soạn lại và sử dụng trong map chơi thử của phiên bản Fire Emblem Sōen no Kiseki sau khi đã clear game.
Thương phẩm liên quan
Sách hướng dẫn
* Fire Emblem Seisen no Keifu TREASURE
Phát hành ngày 27 tháng 1 năm 1999. ISBN 4757180144. Đây là sách hướng
dẫn chính thức của Intelligent Systems.
Manga
Tác giả Ōsawa Mitsuki.
* Fire Emblem Seisen no Keifu (Media Factory), gồm 16 tập.
Tác giả Fujimori Nattsu
* Fire Emblem Seisen no Keifu (Enix), gồm 6 tập.
Tác giả Fuyuki Nea
* Fire Emblem Hikari wo tsugu mono (Enix), gồm 5 tập.
Tác giả Arisaka Sumi
* Fire Emblem Hikari wo tsugu mono tachi (Kōdansha), 1 tập.
Tiểu thuyết, Game Book
Tác giả Suzuki Gin Ichirō
* Fire Emblem Seisen no Keifu.
* Fire Emblem Seisen no Keifu Shigurudo hen.
* Fire Emblem Seisen no Keifu Saigo no Chiryūzoku.
* Fire Emblem Seisen no Keifu Mori to Mizuumi no Kuni.
Tác giả Takeda Yūichirō
* Tiểu thuyết Fire Emblem Seisen no Keifu (Enix).
Game Book
* Fire Emblem Seisen no Keifu (Enix).
CD
* Fire Emblem Seisen no Keifu Game Music Soundtrack (Tokuma Japan Comunications)
* Fire Emblem Seisen no Keifu Original Soundtrack version (NTT/POLYSTAR).
* FIRE EMBLEM THE BEST 2 (POLYSTAR)
Nhạc phổ
* Fire Emblem Seisen no Keifu Tanoshii Baieru heiyō.
Sáng tác: Yokotsuji Yuka
Arrange: Tampa Asako
Thương phẩm
* Fire Emblem TGC (Trading Card Game)
* Fire Emblem~Seisen no Keifu~EXCEED A GENERATION Vol.1: Bộ hình nhân đồ chơi phát hành ngày 14 tháng 11 năm 2006.
Dưới đây là vài hình ảnh về bộ hình nhân
Liên kết ngoài
Monday, 15 February 2010
SRW4
Subscribe to:
Posts (Atom)